<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915</id><updated>2012-02-08T23:04:24.721+09:00</updated><category term='Anime'/><category term='Chambara'/><category term='NONE'/><category term='Zatsugaku'/><category term='Bugei'/><category term='Bunka'/><category term='Japanese history'/><category term='Japanese'/><category term='writers'/><category term='Actors'/><title type='text'>Hòa hồn</title><subtitle type='html'>Nơi Như Thị Duyên ghi chép...</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>83</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6486208240144972788</id><published>2012-02-08T23:04:00.001+09:00</published><updated>2012-02-08T23:04:24.733+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Kanemaki Jisai</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:#008000;"&gt;Kanemaki Jisai&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kanemaki Jisai &lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;(鐘捲 自斎) là một kiếm hào thời Chiến quốc, khai tổ  của phái kiếm Kanemaki-ryū, một phân nhánh của Chūjō-ryū. Ông được cho  là sư phụ của Itō Ittōsai và cho đến nay người ta vẫn chưa xác định  chính xác năm sinh và năm mất của ông.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Kanemaki Jisai có thông gia họ Toda (外他), sau theo học kiếm pháp với  Toda (富田) Jibusaemon (Toda Kagemasa), một cao thủ phái kiếm Toda-ryū  và  cũng là thầy dạy kiếm cho họ Asakura, một hào tộc ở xứ Echizen. Người  ta cho rằng trong thời gian này ông xưng danh là Toda Ittōsai và được  gọi là tam kiệt của họ Toda cùng với Yamazaki Sakon Shōgen, Hasegawa  Munenobu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Đệ tử của Jisai thì có Maebara Yagorō, người này được sư phụ trao cho  danh hiệu "Ittōsai" và kể từ đó, Yagorō xưng danh là Itō Ittōsai và sau  này gây dựng nên phái kiếm Ittō-ryū. Nhiều tài liệu cho thấy Jisai đã  truyền lại cực ý của môn phái là "Cao thượng cực ý ngũ điểm" cho học trò  Itō Ittōsai. Và cũng vì có thời gian Jisai xưng danh là Toda Ittōsai  nên cũng có thuyết cho rằng hai nhân vật Ittōsai này cùng là một người.  Itō Ittōsai có một cao đồ tên là Kotōda Kageyuzaemon, tự xưng môn phái  của mình là Toda Ittō-ryū và cũng có thời gian Jisai xưng môn phái của  mình là Kanemaki Toda-ryū nên mới dẫn đến thuyết hai sư đồ Kanemaki  Jisai và Itō Ittōsai cùng là một người. Ngoài ra Kanemaki Jisai còn có  một người đệ tử nổi danh khác là Sasaki Kojirō.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Toàn bộ đạo học của Kanemaki Jisai được Nakamura Ujike kế thừa. Người này sau làm hộ vệ cho một phiên chúa ở Sendai.       &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6486208240144972788?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6486208240144972788/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/02/kanemaki-jisai.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6486208240144972788'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6486208240144972788'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/02/kanemaki-jisai.html' title='Kanemaki Jisai'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4249700708981406232</id><published>2012-01-23T15:52:00.000+09:00</published><updated>2012-01-23T15:53:24.345+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Song kiếm</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Nitō-ryū&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (二刀流, âm Hán Việt: nhị đao lưu) là danh từ tổng hợp để  chỉ kỹ thuật dụng kiếm, tấn công và phòng thủ hợp nhất bằng cách vận  dụng hai thanh kiếm trên hai tay tả hữu. Kỹ thuật này còn được gọi là &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Nitō Kempō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;  (二刀剣法, nhị đao kiếm pháp) trong võ học Nhật Bản. Danh từ này còn được  dùng để chỉ kỹ thuật vận dụng hai loại vũ khí khác bằng ở hai tay tả  hữu. Danh từ này đối lập với &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ittō-ryū&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (nhất đao lưu), kỹ thuật dụng một thanh kiếm bằng cả hai tay, vốn là thường thức trong kiếm thuật Nhật Bản.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i.imgur.com/vnh4s.gif" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i.imgur.com/vnh4s.gif" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://media.comicvine.com/uploads/4/41615/948522-akechi_samanosuke_super.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://media.comicvine.com/uploads/4/41615/948522-akechi_samanosuke_super.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;span style="font-family: arial;font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Song kiếm Nhật Bản&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Hình thức cơ bản nhất của các phái song kiếm Nhật Bản là cầm kiếm chính (kiếm dài, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Honzashi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;)  bằng tay thuận và kiếm phụ (kiếm ngắn, Wakizashi) ở tay còn lại. Kiếm  Nhật vốn dài và nặng, được chế tạo với mục đích cầm bằng hai tay nên kỹ  thuật đánh song kiếm bằng kiếm Nhật rất khó hội đắc. Vì vậy có rất ít  lưu phái tập trung chủ yếu vào lối đánh song kiếm. Trong cả nghìn phái  kiếm Nhật tự cổ chí kim, chỉ có vài lưu phái là truyền thụ kỹ thuật này.  Trong Kendō, môn &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;thể thao&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; phát sinh từ kiếm thuật Nhật Bản cổ  cũng thấy có nhiều Kendōka sử dụng song kiếm. Cũng có phái kiếm Ittō-ryū  ban đầu tập luyện song kiếm cho quen tay rồi sau trở lại cầm một kiếm  bằng hai tay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Kỹ thuật đánh song kiếm chủ yếu được truyền dạy trong các phái võ nghệ  cổ, có phái dạy cầm kiếm chính bằng tay thuận và cũng có phái cầm kiếm  chính bằng tay nghịch. Cũng có một số ít lưu phái sử dụng cả hai kiếm  phụ (Wakizashi) ở cả hai tay. Ngoài ra còn thấy có thuật đánh Jitte ở cả  hai tay như song kiếm hoặc dùng hai lưỡi hái cùng lúc. Trong  Shurikenjutsu cũng tồn tại một loại kỹ thuật cầm kiếm ở một tay và tay  nghịch cầm Shuriken. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trong các lưu phái lấy kỹ thuật đánh song kiếm làm trọng tâm thì có phái Niten Ichi-ryū do &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Miyamoto Musashi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;  sáng lập là nổi tiếng nhất. Ngoài ra, lịch sử còn ghi nhận Nitta  Yoshisada, một võ tướng sống vào thời Kamakura cũng là một đại cao thủ  sử dụng song kiếm. Trong Taiheiki (Thái bình ký) có những đoạn miêu tả  Nitta hai tay cầm hai đại kiếm chém rơi tên bắn về phía mình. Trong các  phái võ cổ ở Okinawa, nơi chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Hoa và Đông Nam  Á, còn thấy có những kỹ thuật đánh Sai và Tonfa ở cả hai tay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Song kiếm các nước&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Tương tự Nhật Bản, người Châu Âu cũng có kỹ thuật đánh hai kiếm, tay  phải cầm kiếm Rapier và tay trái cầm đoản kiếm Main-gauche. Nhìn từ góc  độ của kiếm Tây (Fencing) và Kendō thì kỹ thuật này khá kỳ dị, nhưng sự  kết hợp giữa Rapier và Main-gauche lại cực kỳ phổ biến ở phương Tây. Kỹ  thuật này thường thấy ở Ý trong thời kỳ phục hưng. Nguyên lai, kỹ thuật  đánh kiếm của phương Tây coi thanh kiếm ở tay phải để tấn công, còn tay  trái cầm khiên để phòng thủ nên kỹ thuật song kiếm với kiếm ngắn ở tay  trái cũng không trái với lối suy nghĩ của người Tây. Hơn nữa, lối đánh  này chủ yếu dùng đòn đâm nên có ưu điểm dễ phòng ngự hơn đòn chém. Đoản  kiếm Main-gauche thường có đốc kiếm lớn hoặc đốc kiếm dạng móc như Jitte  nên khi đỡ kiếm của đối phương thì không còn linh hoạt được nữa. Lợi  điểm của lối đánh song kiếm với một tay cầm kiếm ngắn là có thể kiểm  soát tình huống ở khoảng cách xa và gần, nhất là khi hai đấu thủ đang ở  khoảng cách xa, bất ngờ tăng tốc tiếp cận nhau thì dù nhát đánh thứ nhất  bằng kiếm dài không thành công cũng có thể ra đòn tiếp theo bằng kiếm  ngắn. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trung Hoa cũng có kỹ thuật đánh song kiếm, song đao, ở Đông Nam Á cũng  thấy có những kỹ thuật đánh hai gậy, hai đoản kiếm hay hai trường kiếm  trong các môn võ Sillat và Eskrima.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Song kiếm Nhật Bản trong thể thao&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trong Kendō, Nitō-ryū được thừa nhận trong các giải đấu chính thức, và  nó cũng được gỡ bỏ lệnh cấm từ năm 1992 trong các giải đấu học sinh.  Trong thi đấu, kiếm ngắn Kodachi chủ yếu được dùng để đỡ và gạt kiếm của  đối phương và kiếm dài Tachi dùng để đánh vào người đối phương, ghi  điểm. Về cơ bản thì đòn đánh vào người đối phương bằng kiếm ngắn Kodachi  không được xem là đòn đánh hiệu lực. Nói một cách kỹ càng thì đòn đánh  bằng Kodachi vẫn được xem là đòn đánh hiệu lực, nhưng vì phạm vi tấn  công hẹp nên rất khó để ra đòn hoàn hảo bằng Kodachi nên không được xem  là đòn đánh hiệu lực. Mặt khác, kiếm dài Tachi của các đấu sĩ Nitō-ryū  cũng ngắn hơn kiếm bình thường nên đòn đâm ngực đối với đấu sĩ Nitō-ryū  không được thừa nhận từ năm Heisei thứ 7 (1995) theo luật sửa đổi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nitō-ryū trong tiếng Nhật&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nitō-ryū, ngoài nghĩa là phái song kiếm, lối đánh hai kiếm thì từ này  còn mang ý nghĩa "lưỡng thê", "lưỡng cư", "xăng pha nhớt" trong cảm giác  của người Nhật. Nitō-ryū còn là ẩn ngữ, tiếng lóng chỉ người đồng tính  (nhất là nam). Nitō-ryū cũng dùng để chỉ người thích uống rượu và ăn đồ  ngọt, vì phần đông người thích uống rượu thì ngán đồ ngọt.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trong bóng chày, người ta cũng gọi các tuyển thủ đánh bóng được cả hai  tay (Switch hitter), tuyển thủ làm nhiệm vụ ném bóng kiêm bắt bóng là  Nitō-ryū.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Các phái song kiếm tồn tại đến ngày nay&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Niten Ichi-ryū (dạy chính là song kiếm)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Musashi Enmei-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Shinkage-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Shingyōtō-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Ryūgō-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Kageyama-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Ōishi Shinkage-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Tokuei Sō-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Shibukawa-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Shindō Musō-ryū Jōjutsu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Komagawa Kaishin-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Daitō-ryū (phái này chủ yếu dạy Hiệp khí Nhu thuật)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Yagyū Shingan-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Tendō-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Ikkaku-ryū&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Asayama Ichiden-ryū       &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4249700708981406232?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4249700708981406232/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/song-kiem.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4249700708981406232'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4249700708981406232'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/song-kiem.html' title='Song kiếm'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6394585163896362335</id><published>2012-01-08T01:07:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:42:19.817+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Manga: Azumi</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;span&gt;&lt;b&gt;Azumi&lt;/b&gt; (biểu ký bằng &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Hiragana" title="Hiragana"&gt;Hiragana&lt;/a&gt;: あずみ) là tên một tác phẩm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Manga" title="Manga"&gt;Manga&lt;/a&gt; thể loại hành động của họa sĩ &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Koyama_Y%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Koyama Yū (trang chưa được viết)"&gt;Koyama Yū&lt;/a&gt; và cũng là tên hai bộ phim cùng tên được dựng từ tác phẩm Manga này.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;div style=""&gt;&lt;br /&gt;&lt;li&gt;&lt;img style="display: block;" src="http://2.bp.blogspot.com/-l8FL4EJ8Lq4/TwggGIZklSI/AAAAAAAACwI/hu4qm6yE62c/-d/%5BCMVN%5D_azumi010001.jpg" /&gt;&lt;/li&gt;&lt;/div&gt; &lt;h2&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Kh.C3.A1i_y.E1.BA.BFu"&gt;&lt;span&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;Tác phẩm này được đăng tải liên tục từ năm 1994 cho đến năm 2008 trên  tạp chí Manga của nhà xuất bản Shōgakukan là Big Comic Superior thì  hoàn tất bộ 1. Bộ 1 gồm 48 cuốn in thành khổ bỏ túi (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tank%C5%8Dbon" title="Tankōbon"&gt;Tankōbon&lt;/a&gt;).  Bộ 2 của tác phẩm này mang tên AZUMI, biểu ký bằng chữ La Tinh chứ  không bằng chữ Hiragana như bộ 1, bối cảnh là cuối thời Mạc phủ. Tác  phẩm này từng nhận được giải thưởng ưu tú nhất của bộ môn Manga tại hội  văn hóa nghệ thuật Media vào năm 1997 và giải thưởng Manga của  Shōgakukan lần thứ 43 dành cho bộ môn thanh thiếu niên vào năm 1998.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;h2&gt;&lt;span&gt; &lt;span class="mw-headline" id="N.E1.BB.99i_dung"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;Đầu thời &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_ph%E1%BB%A7_Edo" title="Mạc phủ Edo" class="mw-redirect"&gt;Mạc phủ Edo&lt;/a&gt;,  để tiêu diệt mọi mầm mống phản loạn và gây dựng nên thời thái bình vững  chải, chính quyền Edo đã bí mật xây dựng một tập đoàn thích khách bằng  cách nuôi dạy bọn trẻ mồ côi trở thành những sát thủ hạng nhất. Tác phẩm  này miêu tả cuộc chiến giữa Azumi, một trong những đứa trẻ được nuôi  dạy thành sát thủ và các vị chư hầu đang âm mưu lật đổ chính quyền Mạc  phủ Edo. Thông qua đó tác phẩm cũng mô tả nỗi khổ tâm của thiếu nữ vô  cấu Azumi khi phải ra tay giết người để củng cố nền hòa bình của đất  nước. Tác phẩm cũng nói lên nỗi bất an của một xã hội trong thời kỳ quá  độ, những bất mãn của tầng lớp &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Samurai" title="Samurai"&gt;Samurai&lt;/a&gt; trong buổi giao thời từ Chiến quốc sang một thời đại hòa bình mới, trong đó vai trò của người võ sĩ ngày càng mờ nhạt đi.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;h2&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Nh.C3.A2n_v.E1.BA.ADt_ch.C3.ADnh_trong_t.C3.A1c_ph.E1.BA.A9m"&gt;&lt;span&gt;Nhân vật chính trong tác phẩm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;dl&gt; &lt;dt&gt;&lt;span&gt;Azumi&lt;/span&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Nhân vật chính của tác phẩm, một trong số các thích khách tinh anh  được Obata Gessai nuôi dạy. Azumi là thiếu nữ thơ ngây, trong sáng và  được lũ trẻ yêu thích. Thân thế thực sự của Azumi không được nhắc đến  trực tiếp trong tác phẩm nhưng qua lời kể của các nhân vật thì hình như  Azumi là con lai giữa một phụ nữ Nhật và một người Tây phương. Azumi sở  hữu thị lực và tinh thần mẫn cảm phi thường, sử dụng thông thạo thanh  kiếm hai đầu.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;dt&gt;&lt;span&gt;Obata Gessai&lt;/span&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Là một kiếm sư tài ba, người nuôi dạy Azumi cùng bọn trẻ mồ côi.  Từng trải qua mất mát chiến hữu thân thiết nhất của mình trong thời loạn  lạc. Gessai tôn kính nhà sư Tenkai và nhận mệnh lệnh từ Tenkai, bí mật  nuôi dạy bọn trẻ mồ côi thành những cỗ máy giết người. Gessai là người  hoàn thành mọi nhiệm vụ của Tenkai giao cho, nhưng cuối cùng vì âm mưu  của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Munenori&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Munenori (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Munenori&lt;/a&gt; mà bị thích khách họ Yagyū ám sát chết.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;/dl&gt; &lt;dl&gt; &lt;dt&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nank%C5%8Db%C5%8D_Tenkai&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Nankōbō Tenkai (trang chưa được viết)"&gt;&lt;span&gt;Nankōbō Tenkai&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Hình tượng nhà sư này được xây dựng dựa trên hình mẫu nhân vật lịch sử, là quân sư của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tokugawa_Ieyasu" title="Tokugawa Ieyasu"&gt;Tokugawa Ieyasu&lt;/a&gt;, trụ trì chùa Kita-in, là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BA%A1i_t%C4%83ng_ch%C3%ADnh&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Đại tăng chính (trang chưa được viết)"&gt;Đại tăng chính&lt;/a&gt;  của Phật giáo Thiên thai. Sư Tenkai được Ieyasu đánh giá là "biết quá  nhiều thứ", tính cách của nhân vật này trong tác phẩm cũng là điều bí  ẩn, tuổi tác cũng mơ hồ. Để bình định thiên hạ, Tenkai ngầm ra lệnh cho  Obata Gessai gây dựng tổ chức thích khách bí mật ám sát của lãnh chúa  gây phản loạn. Tenkai là người có trí tuệ thâm sâu, vượt cả Tokugawa và  Toyotomi, là người nhìn rõ đại cục thiên hạ và đứng ra bảo hộ Azumi khi  bị đám thích khách truy đuổi.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;dt&gt;&lt;span&gt;Tobizaru&lt;/span&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ninja" title="Ninja"&gt;Ninja&lt;/a&gt; thuộc hạ của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Inoue_Kanbei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Inoue Kanbei (trang chưa được viết)"&gt;Inoue Kanbei&lt;/a&gt;,  mũi thính đến độ phân biệt được mùi máu. Sau khi Kanbei chết thì trở  nên tuyệt vọng, nhưng sau gặp được sư Tenkai thì lại hết lòng hành động  vì chủ mới. Về tài năng kiếm thuật thì xếp sau Azumi nhưng nhẫn thuật  siêu quần, không ít lần cứu Azumi ra khỏi cảnh nguy khốn. Đây là nhân  vật hiếm hoi trong tác phẩm sống sót, sát cánh bên Azumi được lâu dài.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;dt&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Inoue_Kanbei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Inoue Kanbei (trang chưa được viết)"&gt;&lt;span&gt;Inoue Kanbei&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Cận vệ của tướng &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kat%C5%8D_Kiyomasa&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Katō Kiyomasa (trang chưa được viết)"&gt;Katō Kiyomasa&lt;/a&gt;.  Nếu như nhân vật Kanbei trong lịch sử kết thúc cuộc đời mình trong vai  trò một nhà sư sau khi chủ nhân là Katō Tadahiro chết thì trong tác phẩm  này, Kanbei quyết tâm báo thù khi song thân và người chị gái bị Tướng  quân Tokugawa Ieyasu thảm sát. Chủ nhân của Kanbei là Katō Kiyomasa bị  Azumi ám sát, sau đó thủ lãnh mới là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Toyotomi_Hideyori" title="Toyotomi Hideyori"&gt;Toyotomi Hideyori&lt;/a&gt; cũng chịu chung số phận. Khi &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C3%A0nh_%C5%8Csaka&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Thành Ōsaka (trang chưa được viết)"&gt;thành Ōsaka&lt;/a&gt;  sụp đổ trước quân đội Tokugawa, Kanbei đơn thương độc mã xông vào trận  chính ám sát Ieyasu nhưng sức cùng lực kiệt, mang trọng thương và được  Azumi cứu thoát. Sau này Kabei che giấu thân thế, trở thành đệ tử của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ono_Tadaaki&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Ono Tadaaki (trang chưa được viết)"&gt;Ono Tadaaki&lt;/a&gt;, chờ ngày báo thù Ieyasu. Nhưng một lần tìm đến võ đường Ono, cận vệ của Ieyasu là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Honda_Masazumi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Honda Masazumi (trang chưa được viết)"&gt;Honda Masazumi&lt;/a&gt; khám phá ra thân thế của Kanbei...&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;dt&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Munenori&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Munenori (trang chưa được viết)"&gt;&lt;span&gt;Yagyū Munenori&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Con trai thứ 5 của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Yagy%C5%AB_Muneyoshi" title="Yagyū Muneyoshi"&gt;Yagyū Muneyoshi&lt;/a&gt;, tổ họ Yagyū ở &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Edo" title="Edo"&gt;Edo&lt;/a&gt;  và là giáo đầu dạy kiếm thuật cho Tướng quân Tokugawa đời thứ 3. Trong  trận Ōsaka, Munenori lập được chiến công lấy được 8 đầu tướng địch, được  phong lãnh địa 2000 hộc. Munenori là một kiếm sư siêu quần và là một  nhà chính trị lỗi lạc, là kiếm khách duy nhất nắm quyền hành về mặt  chính trị đương thời. Trong tác phẩm, Munenori lập mưu lợi dụng Azumi để  ám sát Ieyasu, sau nhiều lần phái thích khách đi hành thích Azumi.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;dt&gt;&lt;span&gt;Mogami Bijomaru&lt;/span&gt;&lt;/dt&gt; &lt;dd&gt;&lt;span&gt;Cao thủ rút kiếm nhanh (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Iai-jutsu&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Iai-jutsu (trang chưa được viết)"&gt;Iai-jutsu&lt;/a&gt;),  thích khách lợi hại này được Sanada Yukimura thả ra để ám toán bọn  Azumi. Bijomaru phục sức như nữ nhân, ngôn động cũng khác gì nữ nhân và  tự say mê bản thân đắm đuối. Sát thủ này từng giết chết Hyūga và đánh  Gessai trọng thương.&lt;/span&gt;&lt;/dd&gt; &lt;/dl&gt; &lt;h2&gt;&lt;span class="mw-headline" id="C.C3.A1c_ph.C6.B0.C6.A1ng_ti.E1.BB.87n_truy.E1.BB.81n_th.C3.B4ng_kh.C3.A1c"&gt;&lt;span&gt;Các phương tiện truyền thông khác&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;h3&gt;&lt;span class="mw-headline" id=".C4.90i.E1.BB.87n_.E1.BA.A3nh"&gt;&lt;span&gt;Điện ảnh&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Azumi_%28%C4%90i%E1%BB%87n_%E1%BA%A3nh%29&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Azumi (Điện ảnh) (trang chưa được viết)"&gt;Azumi&lt;/a&gt; (2003)&lt;/span&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Azumi_2_Death_or_Love&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Azumi 2 Death or Love (trang chưa được viết)"&gt;Azumi 2 Death or Love&lt;/a&gt; (2005)&lt;/span&gt;&lt;/li&gt; &lt;/ul&gt; &lt;h3&gt;&lt;span class="mw-headline" id="S.C3.A2n_kh.E1.BA.A5u"&gt;&lt;span&gt;Sân khấu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;Diễn lần đầu ： Ngày 3~26 tháng 4 năm 2005. Tái diễn: tháng 4 năm 2006&lt;/span&gt;&lt;/li&gt; &lt;/ul&gt; &lt;h3&gt;&lt;span&gt; &lt;span class="mw-headline" id="Game"&gt;Game&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;Azumi (game Play Station 2)&lt;/span&gt;&lt;/li&gt; &lt;/ul&gt; &lt;h3&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Pachinko"&gt;&lt;span&gt;Pachinko&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=M%C3%A1y_CR&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Máy CR (trang chưa được viết)"&gt;CR&lt;/a&gt; Azumi&lt;/span&gt;&lt;/li&gt; &lt;/ul&gt; &lt;h2&gt;&lt;span&gt; &lt;span class="mw-headline" id="Li.C3.AAn_k.E1.BA.BFt_ngo.C3.A0i"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;span&gt;&lt;a rel="nofollow" class="external text" href="http://www.esp-web.co.jp/products/azumi/"&gt;Azumi&lt;/a&gt; (Trang chủ game Azumi trên hệ máy PS2)&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6394585163896362335?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6394585163896362335/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/manga-azumi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6394585163896362335'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6394585163896362335'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/manga-azumi.html' title='Manga: Azumi'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1175716517041212916</id><published>2012-01-01T22:47:00.004+09:00</published><updated>2012-01-02T10:00:36.137+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Đại từ nhân xưng trong tiếng Nhật (1/2)</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tôi nghe như vầy, một thuở nọ, người Việt thường kháo nhau rằng tiếng  Việt rất phong phú trong việc thể hiện sắc thái biểu cảm của lời nói,  đặc biệt là thông qua hệ thống đại từ nhân xưng dày đặc và nghiêm mật.  Chẳng hạn, cũng khái niệm "you" trong tiếng Anh nhưng trong tiếng Việt,  khi thì "anh", khi thì "chị", khi thì "em", vân vân. Tôi không rành  nhiều ngôn ngữ ngoại quốc lắm nhưng tin chắc rằng điều này không phải là  đặc trưng của riêng tiếng Việt. Biết đâu trong các thứ tiếng khác, hệ  thống đại từ nhân xưng còn phức tạp và tinh mật hơn. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trong phạm vi hiểu biết của mình, tôi nói tiếng Nhật cũng rất tinh mật  và nghiêm ngặt trong việc sử dụng đại từ nhân xưng, không thua gì tiếng  Việt. Bài viết này giới thiệu đến bạn đọc các đại từ nhân xưng ngôi thứ  nhất và ngôi thứ hai trong tiếng Nhật để giúp bạn đọc phần nào có cái  nhìn bao quát hơn về ngôn ngữ Nhật Bản. Có những cái quý bạn đã được  biết qua sách vở ở trường lớp, nhưng chắc hẳn cũng có cái chưa gặp lần  nào. Thôi thì cứ coi như chuyện trà dư tửu hậu mấy ngày nhàn rỗi đầu năm  vậy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Dân tộc nào cũng có niềm tự hào của riêng mình, biết rõ mình, biết rõ người lại càng hay vậy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;i style="font-family: arial;"&gt;*Lưu ý:&lt;/i&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; bài này có sử dụng ký tự Nhật Bản, nếu máy tính của quý  bạn không hiển thị được thì tải font chữ Nhật Bản theo link dưới đây và  cài vào máy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.mediafire.com/?dg5otb9hgdm" target="_blank"&gt;http://www.mediafire.com/?dg5otb9hgdm&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:#008000;"&gt;Phần I: đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất trong tiếng Nhật phần lớn là từ chức  năng, nhất là trong tiểu thuyết, Anime hay Manga. Từ chức năng  (yakuwari-go) là khái niệm do nhà ngôn ngữ học Kinsui Satoshi đề xuất,  chỉ cách sử dụng từ ngữ nhằm gợi lên đặc điểm, phong cách, tuổi tác hay  nghề nghiệp của người nói. Các đại danh từ trong bài này sẽ được nhóm  theo tính chất của chúng, như phổ thông, lịch sự, lễ phép, cổ  phong,..... (bao gồm cả từ địa phương). Và tất cả những từ này đều mang  nghĩa chỉ về người nói, tôi, tao, tui, tau, tớ,....&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất trong tiếng Nhật có đặc điểm là cùng một  chữ Hán nhưng tùy trường hợp mà đọc khác nhau và do đó, sắc thái cũng  khác nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ cổ phong&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;:  là những đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất được sử dụng thời cổ, hiện tại  không còn dùng (trừ một vài trường hợp). Những từ này mang hơi hướng cổ  trang, kiếm hiệp, giang hồ...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wagahai&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (我輩, 吾輩, 我が輩, 吾が輩): mang tính tôn đại, trịnh trọng. Từ  này nổi tiếng nhờ tác phẩm của văn Natsume Sōseki là "Wagahai wa neko  dearu" (tôi là con mèo).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Soregashi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (某): được nam giới thời trung cổ sử dụng, ban đầu  mang tính khiêm nhường, sau mang tính trịnh trọng. Chủ yếu được các võ  sĩ thời Chiến quốc sử dụng. Lưu ý là 某 còn có nhiều âm đọc khác như  kure, nanigashi là đại từ nhân xưng không xác định chỉ người không biết  tên.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Chin&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (朕): âm Hán Việt là "trẫm", được bậc Đế Vương Trung Hoa  thời cổ sử dụng để tự xưng. Tại Nhật, từ này còn thấy trong các công văn  của Thiên Hoàng nhưng sau Đệ nhị Thế chiến, từ này dần dà ít được dùng  hơn. Thiên Hoàng hiện tại dùng watakushi để tự xưng. Trước chiến tranh,  chin chỉ được dùng trong công văn và khi đọc trước đám đông, còn khi nói  chuyện thì Thiên Hoàng Shōwa vẫn tự xưng là watashi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Maro&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (麻呂, 麿): thời cổ, từ này được sử dụng trong tên của nam  giới (như nhà thơ Kakinomoto Hitono-maro, 柿本人麻呂, thời Asuka) nhưng sau  thời Heian thì nó chuyển thành đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, không  phân biệt nam nữ. Hiện nay từ này chỉ còn thấy trong tiểu thuyết, là từ  tự xưng của các công hầu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ware, Wa&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (我・吾): hiện tại không còn sử dụng trong văn nói mà chỉ  thấy ở một số công văn mang tính chất trịnh trọng. Hiện tại nó còn được  dùng như đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng địa phương vùng  Kansai và dần mất đi cùng với nền giáo dục chuẩn sau thời Meiji. Tuy  nhiên hiện nay vẫn còn thấy những cách biểu hiện như waga-ie (我が家, nhà  tôi), waga-kuni (我が国, nước ta) nhưng không mang tính trịnh trọng như vốn  có của nó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Yo&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (余, 予): được sử dụng sau thời Heian. Trước Đệ nhị Thế chiến,  từ này được dùng không phân biệt thân phận vai vế nhưng sau chiến  tranh, từ này chủ yếu được các đấng quân vương, phiên chúa sử dụng trong  tiểu thuyết, phim ảnh lịch sử, võ hiệp...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Vd: một câu nổi tiếng của văn hào Nakazato Kaizan: 余は大衆作家にあらず (yo wa  taishū sakka ni arazu): tôi không phải là nhà văn viết tiểu thuyết đại  chúng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Vd2: 余は力によって国を興した (trẫm chấn hưng đất nước bằng vũ lực)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Shōsei&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (小生): ngày xưa được nam giới dùng với sắc thái khiêm  nhường, nay được sử dụng trong thư từ. Âm Hán Việt là "tiểu sinh" và từ  này vẫn được sử dụng tại Việt Nam vài chục năm trước. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Gojin&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (吾人): được nam giới dùng trong thư văn thời cổ, nay ít dùng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Gusei&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (愚生): ngày xưa được nam giới dùng với sắc thái khiêm nhường, nay được sử dụng trong thư từ. Âm Hán Việt là "ngu sinh".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Asshi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (あっし): được nam nữ bình dân hạ tiện sử dụng, được cho là biến thể của atashi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Achiki&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (あちき): được các du nữ sử dụng để che giấu xuất thân của  mình. Các du nữ còn dùng asshi và achishi để tự xưng nhưng thực ra  achishi chỉ thấy trong tiểu thuyết lịch sử, võ hiệp...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wacchi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (わっち): giống như achiki, đây là từ tự xưng của các du  nữ, hiện tại không còn dùng. Tuy nhiên, trong tiếng địa phương vùng Mino  thì từ này cũng được dùng để tự xưng, bất luận nam nữ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Warawa&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (妾): từ tự xưng của nữ giới, bắt nguồn từ chữ 童 (warawa,  warabe, "đồng" trong "nhi đồng"), mang ý nhún nhường rằng mình là kẻ ấu  trĩ như trẻ nít. Hiện tại, từ này thường thấy trong tiểu thuyết, phim  ảnh lịch sử và được Vương phi, Nữ vương sử dụng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Sessha&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (拙者): từ độc chiếm của các võ sĩ Samurai thời cổ, dùng  để tự xưng với ý khiêm nhường. Âm Hán Việt là "chuyết giả" và người Việt  ngày xưa vẫn dùng để nói về mình. Từ "chuyết" mang nghĩa vụng về, ngu  độn nên thường được dùng như tiếp đầu ngữ đi liền với nhiều từ sau, hình  thành nên ý khiêm nhường, như "chuyết tác" (sessaku) chỉ tác phẩm do  mình làm ra, mang ý khiêm tốn. Nhân vật Himura Kenshin trong bộ Manga  Rurōni Kenshin luôn tự xưng là sessha.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://i.imgur.com/gWmWT.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Gusō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (愚僧): âm Hán Việt là "ngu tăng", thầy chùa ngốc. Đây là từ  tự xưng của giới tăng lữ, tu sĩ, tương đương với "bần tăng" trong tiếng  Việt. Từ này đến nay vẫn được giới tăng lữ sử dụng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Sessō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (拙僧): âm Hán Việt là "chuyết tăng", tương tự như Gusō. Từ này đến nay vẫn được giới tăng lữ sử dụng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Midomo&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (身ども): từ tự xưng của võ sĩ (nam giới) với người đồng đẳng hay vai vế thấp hơn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Yatsugare&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (僕), &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Temae&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (手前): mang nghĩa là bản thân mình.  Hiện tại, trong văn thư thường thấy temae-domo (手前ども) ý nghĩa như  kochira. Tuy nhiên, trong tiểu thuyết lịch sử, võ hiệp thì temae là đại  từ nhân xưng ngôi thứ hai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kochihito, Kochito&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (此方人): mang nghĩa đen là "người ở đây",  "người này". Kochito là biến thể của kochihito. Hai từ này là đại từ  nhân xưng ngôi thứ nhất, dùng được cả số ít lẫn số nhiều.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Konata&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (此方), &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kochitora&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (此方人等): konata mang nghĩa như  kochira nhưng mang sắc thái gần gũi về mặt tâm lý hay khoảng cách, chủ  yếu được nữ giới trong tầng lớp võ sĩ, công hầu quý tộc sử dụng. Dùng  được với cả số ít lẫn số nhiều. Hiện tại cả hai từ này đều không còn  dùng, ngoại trừ trong tiểu thuyết lịch sử, võ hiệp. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ phổ thông&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Watashi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (私): là đại danh từ ngôi thứ nhất được người Nhật sử dụng nhiều nhất và là cách nói gọn của &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;watakushi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;.  Từ này thường được dịch là "tôi" trong tiếng Việt. Từ sau thời cận đại,  watakushi được lược bỏ "ku" và trở thành watashi, thường được phụ nữ sử  dụng. Ngày nay, watashi được cả nam và nữ sử dụng. Trong chốn công  cộng, nam giới dùng watashi hay watakushi để nói về mình được coi là hợp  phép tắc. Ban đầu, từ 私 được chua cách đọc trong bảng chữ Hán thường  dùng là watakushi, còn trong các công văn hành chính thì từ watashi được  viết bằng Hiragana  (わたし) chứ không viết bằng Hán tự. Nhưng đến năm  2011 thì 私 chính thức được thừa nhận cách đọc trong bản Hán tự thường  dùng là watashi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Watakushi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (私): dạng đầy đủ của watashi, thường được sử dụng khi  phát ngôn trước công chúng. Đặc biệt, trong các bài diễn thuyết của  Hoàng gia Nhật, từ này luôn được sử dụng. Trước thời Muromachi thì từ  này không được sử dụng như đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất nhưng sau đó  nó được dùng như ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Boku&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (僕): được nam giới sử dụng và mang tính chất riêng tư về  mình khi nói chuyện với người đồng đẳng hoặc vai vế thấp hơn hay khi thể  hiện sự thân thiết với người nghe. Trong một số trường hợp cần nghi  thức, nó vẫn được chấp nhận. Âm Hán Việt của từ này là "bộc" (trong nô  bộc). Thời cổ, 僕 được phát âm là &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;yatsugare&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;, nhưng từ thời Meiji trở đi, tầng lớp thư sinh, học sinh đọc từ này là boku và sử dụng như ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Jibun&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (自分): vốn mang nghĩa là tự mình, bản thân mình và được  nam giới trong ngành thể dục thể thao dùng để chỉ về mình. Trong loạt  phim truyền hình "cảnh sát miền Tây" (seibu keisatsu), nam tài tử chính  Watari Tetsuya dùng từ jibun để chỉ về mình và từ đó từ này trở nên phổ  biến trong dân chúng. Trong văn viết, thỉnh thoảng cũng thấy jibun xuất  hiện trong vai trò đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và cả nữ giới cũng sử  dụng nhưng trong công văn chính thức, lễ nghi thì không sử dụng. Tại  vùng Kansai thì jibun được dùng như đại từ nhân xưng ngôi thứ hai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ thân mật&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ore&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (俺): được nhiều nam giới sử dụng đối với người đồng đẳng  hay vai vế thấp hơn mình, mang tính thân mật hay cọc cằn. Về sắc thái,  từ này tương đương với "tao" trong tiếng Việt và không được sử dụng khi  đứng trước đám đông, phát biểu trong hội nghị. Tuy nhiên, ngày càng có  nhiều thanh nhiên sử dụng từ này trong những tình huống cần lễ nghi  trang trọng. Ore là từ biến đổi của onore (己), trước thời Kamakura, nó  là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai nhưng về sau trở thành ngôi thứ nhất.  Đến thời Edo, nó được cả nam nữ, không phân biệt sang hèn đều sử dụng.  Nhưng sau thời Meiji thì nó trở thành từ độc chiếm của nam giới, ngoại  trừ vùng Đông Bắc vẫn còn sử dụng nó như một từ địa phương. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Washi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (儂, 私): thường thấy trong tiểu thuyết, phim ảnh và được  nam giới lớn tuổi sử dụng. Thời cận đại, nữ giới vẫn dùng từ này với đối  phương trong trường hợp thân thiết, nhưng ngày nay nó trở thành từ độc  chiếm của nam giới khi nói với người đồng đẳng hoặc kém vai vế. Washi  còn là từ địa phương tại các tỉnh Aichi, Gifu và phía Tây vùng Hokuriku,  nam giới không nhiều tuổi cũng sử dụng từ này. Tại những vùng này thì  thanh niên, trẻ con cũng sử dụng washi để chỉ bản thân, nhưng gần đây do  ảnh hưởng của phương tiện truyền thông mà giới trẻ đã chuyển sang dùng  "ore".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Atashi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (あたし): cách nói biến âm mang tính suồng sả của  watakushi, ngày nay thường được nữ giới sử dụng trong tình huống thân  mật. Trong những tình huống trang trọng, nữ giới vẫn phát âm rõ ràng là  watashi. Atashi ban đầu được nam nữ lưỡng dụng, nhất là trong giới  thương nhân và thợ thủ công, nhưng về sau trở thành từ độc chiếm của nữ  giới. Ngày nay, các diễn viên kể chuyện hài Rakugo vẫn sử dụng từ này.  Sắc thái từ này tương tợ "tôi" thành "tui" trong tiếng Việt.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Atai&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (あたい): thể biến âm và suồng sả hơn của atashi. Đây là từ  độc chiếm của nữ giới và mang sắc thái cộc cằn, được phụ nữ và trẻ nhỏ ở  Tōkyō sử dụng. Hiện tại, trong thường nhật hầu như không còn ai sử dụng  từ này mà chỉ còn thấy trong tiểu thuyết, phim ảnh và trong tiếng địa  phương ở Kagoshima.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Watai&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (わたい): biến âm của watashi, tương tự như atai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wai, Wate, Ate&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (わい, わて, あて): được sử dụng ở vùng Kinki từ sau  thời cận đại. Wai là từ rút gọn của washi, là từ độc chiếm của nam giới  còn wate là dạng rút gọn của watai, ate lại là dạng rút gọn hơn nữa từ  wate. Ate, Wate được dùng nhiều ở Kyōto không phân biệt nam phụ lão ấu.  Ngày nay, chỉ còn một số ít người già vẫn còn sử dụng những từ này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wadasu&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (わだす): cách nói trại của watashi của miền Đông Bắc. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Adasu, Wasu&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (あだす, わす): cách nói trại của atashi, washi ở miền Đông Bắc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Uchi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (うち): được nữ giới miền Tây sử dụng nhiều. Tại Kyūshū (một phần), cả nam nữ đều dùng uchi để chỉ về mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Oira&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (己等): được nam giới sử dụng, mang tính địa phương. Khi làm  nũng, cả nam và nữ đều dùng oira để chỉ về mình. Có những cách viết như  俺等 (đọc theo nguyên tắc là orera), 俺ら cũng đọc là oira nên rất dễ nhầm  với orera (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số nhiều, bọn tao, chúng tao)  nên gần đây không được sử dụng. Lưu ý là từ 己等 còn có cách đọc là  u'nura, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, bọn mày, lũ chúng bây, lũ chúng  mày, tụi bây...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ora&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (俺ら): phái sinh từ oira, được sử dụng nhiều ở phía Bắc vùng Kantō.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Oi, oidon&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (おい, おいどん): được nam giới ở Kyūshū sử dụng, nhất là  phía Nam vùng này. Trong hội thoại thường nhật, nam giới trẻ tuổi tự  xưng là oi, còn nam giới có tuổi và trong số những người sinh trước Đệ  nhị Thế chiến, phụ nữ vẫn dùng oidon khi tự xưng. Oi còn được dùng như  đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, mang nghĩa "you". &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Khi gặp đám đánh nhau, cảnh sát thường nộ: oi! Kora! (おい!こら!). Thực chất  câu này có nghĩa là: "này anh, chuyện gì vậy?" theo đúng nghĩa của vùng  Kyūshū. Đầu thời Meiji, nhiều võ sĩ phiên Satsuma (thuộc vùng Kyūshū)  được tuyển làm cảnh sát và họ vẫn thường hỏi câu này khi gặp đám đánh  nhau. Dần dà, câu này trở nên phổ cập và mang ý nghĩa cảnh cáo, răn đe  như ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ura&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (うら): từ địa phương của vùng Hokuriku, chủ yếu do nam giới sử dụng. Ngày xưa nữ giới cũng dùng ura để chỉ về mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wa, Waa&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (わ, わー): từ địa phương vùng Tsugaru, nam nữ đều dùng.  Tại tỉnh Ehime, từ này chủ yếu do nam giới có tuổi sử dụng và có khi là  đại từ nhân xưng ngôi thứ hai. Từ này được cho là biến thể của ware  (ngã).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Wan, Waa&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (ワン, ワー): từ địa phương Okinawa, chủ yếu do nam giới  dùng. Nữ giới Okinawa, nhất là người có tuổi thường sử dụng tên mình để  chỉ về mình. Trong bài hát "Shimauta" của nhóm The Boom có câu: "wanku  nu nadagwa" (わんくぬなだぐぁ) nghĩa là: nước mắt của tôi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Bokuchan, bokuchin&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (ぼくちゃん, ぼくちん): từ được bé trai sử dụng khi làm nũng hay bông đùa.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Orecchi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (おれっち): biến thể của ore, kiểu nói này do người sinh ra  và được nuôi dưỡng ở Edo (Tōkyō thời cổ) sử dụng. Nó còn là biến thể  của oretachi, ngôi thứ nhất số nhiều, mang nghĩa chúng ta, bọn ta.  Orecchi thường được sử dụng tại trung tâm tỉnh Shizuoka.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Khuynh hướng trường âm&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;: là khuynh hướng kéo dài âm a của các  đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, chẳng hạn: oryaa (おりゃあ), bokā (ぼかぁ),  watashā (わたしゃ), atashā (あたしゃ), washā (わしゃあ), orā (おらぁ). Những từ này  tương tự đại từ nguyên bản của chúng đi kèm với trợ từ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Ví dụ: わたしの、わたしは、わたしが thành わたしゃ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một câu trong bài hát "Itako no hanayome-san" (cô dâu vùng Itako): わたしゃ潮来の　　水育ち (tôi là con người vùng sông nước)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ khiêm tốn&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Watashime, Watakushime&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (私め): tiếp vĩ ngữ me mang ý nhún nhường để chỉ về bản thân. Watashime thường được các hầu gái sử dụng đối với chủ nhân. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Watakushi-domo&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (私ども): từ khiêm nhường chỉ bản thân hay gia đình, đoàn thể của mình. Như temae-domo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ ngạo mạn, bố láo&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Oresama&lt;/span&gt; (俺様): ore có thể dịch là "tao", tiếp vĩ ngữ "sama" đi sau danh  từ mang ý kính trọng danh từ đứng trước, tương tự ngài X, ngài Y trong  tiếng Việt hay Mr. A, Mr. B. Khi cả ore đi chung với sama thì người nói  tỏ ra ngạo mạn xấc xược.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Atakushi&lt;/span&gt;: thể cộc cằn của watashi, thường thấy ở các nhân vật tiểu thơ  cao kỳ (tục gọi là "chảnh") hay các nhân vật ưa lấy thịt đè người trong  tiểu thuyết. Trường hợp này thường đi chung với nhiều kính ngữ giản  lược để hình thành sắc thái châm chọc, cộc cằn trong câu nói.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Nhóm từ dùng trong công việc&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Shōshoku&lt;/span&gt; (しょうしょく), Tōhō (当方): dùng để chỉ về người nói hoặc đoàn thể,  tổ chức mà người nói thuộc về và mang sắc thái trịnh trọng. Các cấp bậc  trong công ty khi trao đổi thư từ với nhau cũng dùng từ này để chỉ về  mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Sakusha&lt;/span&gt; (作者): âm Hán Việt là "tác giả". Đơn thuần là các nhà văn có khi dùng từ này để nói mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Sensei&lt;/span&gt; (先生): thông thường từ này là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai được  sử dụng đối với người làm nghề giáo, bác sĩ, họa sĩ Manga,.... Nhưng  ngược lại, những người này (bác sĩ, giáo viên) cũng dùng như ngôi thứ  nhất chỉ về mình khi nói với học sinh, bệnh nhân. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Honkan&lt;/span&gt; (本官): âm Hán Việt là "bản quan". Ai coi nhiều phim Bao Công sẽ  biết (^^). Từ này được giới cảnh sát, sĩ quan, thầy phán dùng chỉ về  mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Honshoku&lt;/span&gt; (本職): được giới thầy cãi, thầy kiện sử dụng. Cũng có khi dùng Shōshoku, tōshoku (当職).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Henshūshi&lt;/span&gt; (編集子), Hissha (筆者): được những người đăng bài trên báo, tạp chí sử dụng chỉ về mình.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Tōkyoku&lt;/span&gt; (当局): được các đài phát thanh tư nhân sử dụng trong hội thoại, văn thư khi liên lạc với nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; + &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Kochira&lt;/span&gt; (こちら): mang nghĩa đen "đây là...", được các đài phát thanh tư  nhân sử dụng. Ban đầu, khi liên lạc điện tín thường nói kochira cùng với  tên mình, chẳng hạn: kochira Yamada (đây là Yamada). Về sau, lối nói  này trở thành thói quan khi liên lạc điện thoại, điện báo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; © N.T.Duyên 1-1-2012&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Bài kỳ sau: đại từ nhân xưng ngôi thứ hai&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1175716517041212916?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1175716517041212916/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/ai-tu-nhan-xung-trong-tieng-nhat-12.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1175716517041212916'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1175716517041212916'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2012/01/ai-tu-nhan-xung-trong-tieng-nhat-12.html' title='Đại từ nhân xưng trong tiếng Nhật (1/2)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1439292523859377352</id><published>2011-12-13T00:02:00.001+09:00</published><updated>2011-12-13T00:02:44.495+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Thuyền đá</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;"Ishi no fune wa tsuini ukabazu"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (tạm dịch: cuối cùng thuyền đá cũng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; không chịu nổi lên)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Đây là câu nói nổi tiếng của Yagyū Muneyoshi, &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; hiệu là Sekishūsai (Sekishū là cách đọc khác của&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Ishi no fune, thuyền đá) và cũng là quan điểm sống thú vị của Sekishūsai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Xã hội Nhật Bản đương thời là một xã hội trọng võ nghệ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phàm kẻ nào biết chút võ công, kiếm pháp đều có thể mở được đường công danh hiển hách, được các chư hầu lớn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; nhỏ mời gọi. Có người xuất thân với bàn tay trắng, dùng võ nghệ mà được  hiển hách với bổng lộc trăm vạn hộc. Kẻ biết võ thời đó, có chí thì theo  thờ các lãnh chúa (Daimyō), thất chí thì mở võ đường dạy con em các  Samurai, lãnh chúa hay bá tánh trong vùng để kiếm cơm qua ngày. Tựu  trung, những kẻ cầm kiếm đương thời và biết chút "nghệ" thì không phải  lo đến cái ăn. Và được một vị lãnh chúa, Tướng quân nào đó mời gọi để  nhận bổng lộc nghìn hộc cũng là mơ ước của lắm kẻ cầm kiếm đương thời.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nhưng đối với Yagyū Sekishūsai thì lại khác, từ lúc chỉ là một lãnh chúa  nhỏ ở xứ Yamato, ông đã được lắm chư hầu chèo kéo nhưng đều từ chối  hết.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Họ Yagyū vốn là một hào tộc ở xứ Yamato nhỏ bé ở miền Tây nước Nhật. Từ  thời Chiến quốc, đã có lắm thế lực nhòm ngó, muốn thôn tính vùng đất này  nhưng nhờ vào tài lãnh đạo khéo léo của Sekishūsai mà xứ này chưa một  lần trải qua nạn binh đao. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Thời Chiến quốc, quần hùng cát cứ bốn phương và thôn tính lẫn nhau nên  không ai nói trước được kẻ đứng vững sau cùng là người nào. Vì vậy  Sekishūsai không chọn theo hầu một vị Daimyō nào cả là một điều hợp lý,  dù nó đi ngược lại với lòng ham muốn công danh, sự nghiệp của phần đông  kẻ võ nghệ thời đó. Nếu theo một chư hầu nào, đến khi chư hầu đó thất  thế thì xứ sở tránh sao được cảnh bị cướp bóc, thiêu hủy làng mạc. Nhưng  xứ Yamato trải qua mấy trăm năm, đến tận ngày nay vẫn còn xanh tốt với  những cánh rừng nguyên thủy, âu cũng phần lớn nhờ vào sự sáng suốt của  Sekishūsai vậy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Sau trận hợp chiến Sekigahara, thiên hạ rơi vào tay Tướng quân Tokugawa  Ieyasu. Lúc bấy giờ loạn lạc đã không còn, đất nước quy về một mối nên  Sekishūsai mới để con trai là Yagyū Munenori theo thờ họ Tokugawa, nhận  chức Chỉ nam dạy kiếm cho con cháu Tướng quân, nhận bổng lộc hơn vạn  hộc, con cháu đời đời hưởng phúc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Việc Yagyū Sekishūsai thờ ơ với thế cuộc, sớm lui về ở ẩn phần nào cũng  nói lên ảnh hưởng của công án "vô đao" mà sư phụ Kami Izumi để lại cho  ông. Vì vậy ông tự nhận mình là "thuyền đá", chỉ chìm ở đáy nước chứ  không nổi lên mặt như thiên hạ. Ông cho rằng binh pháp (võ nghệ) của  mình không dùng để xuất thế lập thân ở thế gian phù phiếm như nhiều  người vẫn quan niệm. Nhân sinh quan này quả độc đáo và trái ngược với  quan niệm của đa số con người thời đó lẫn đương đại. Phàm là kẻ có chút  tài năng, hoặc giả là không có, người ta đều cố gắng để biến nó thành  tiền tài vật chất, để được nổi danh. Nhưng Sekishūsai đã không chọn cách  làm như vậy, nhưng con cháu ông vẫn đời đời được hưởng phúc. Âu cũng là  cách nhìn nhận của bậc cao nhân đã đạt cảnh cực ý của binh pháp (võ  nghệ) vậy. Hưởng được cái thực ở chỗ thiên hạ không hưởng được.       &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1439292523859377352?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1439292523859377352/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/thuyen.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1439292523859377352'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1439292523859377352'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/thuyen.html' title='Thuyền đá'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7847355902019024603</id><published>2011-12-11T11:08:00.002+09:00</published><updated>2011-12-11T11:12:58.896+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Kusari-gama</title><content type='html'>&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="Kh.C3.A1i_y.E1.BA.BFu"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;b&gt;Kusari-gama&lt;/b&gt; (鎖鎌) là một món vũ khí trong võ thuật Nhật Bản cổ  và được phát triển từ nông cụ, một đầu là lưỡi hái để cắt cỏ được nối  với đầu kia là một quả chùy bằng một đoạn dây xích sắt. Trong tiếng  Nhật, "kusari" nghĩa là dây xích, còn "kama" hay "gama" (tiếp vĩ ngữ)  nghĩa là lưỡi hái. Món vũ khí này phát triển trong tầng lớp nông dân,  thương nhân và thợ thủ công vốn mang thân phận thấp hèn, bị chính quyền  phong kiến cấm mang kiếm trong người. Nó cũng được các lưu phái võ nghệ ở  Nhật sử dụng như một món võ khí ẩn và được xem là một trong "&lt;b&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kobud%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kobudō (trang chưa được viết)"&gt;võ nghệ thập bát ban&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;". Món vũ khí này được biết đến nhiều qua nhân vật Shishido Baiken xuất hiện trong tiểu thuyết "&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Miyamoto_Musashi_%28ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt%29" title="Miyamoto Musashi (tiểu thuyết)"&gt;&lt;b&gt;Miyamoto Musashi&lt;/b&gt;&lt;/a&gt;" của văn hào &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yoshikawa_Eiji&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yoshikawa Eiji (trang chưa được viết)"&gt;Yoshikawa Eiji&lt;/a&gt;.&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="H.C3.ACnh_d.E1.BA.A1ng"&gt;Hình dạng&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Về hình dạng thì Kusari-gama chủ yếu có hai loại, một loại có quả  chùy xích sắt nối vào phần đầu của lưỡi hái và một loại có quả chình  xích sắt nối vào phần chuôi của lưỡi hái. Ngoài ra, hình dạng  Kusari-gama cũng biến đổi thiên hình vạn trạng tùy thuộc vào từng môn  phái sử dụng và công phu ra nó.&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;a href="http://images.wikia.com/deadliestwarrior/images/4/4d/Db_KUSARIGAMA-_3_2_%281%29.jpg" class="image" name="Db KUSARIGAMA- 3 2 (1).jpg" id="Db_KUSARIGAMA-_3_2_-281-29-jpg"&gt;&lt;img alt="" src="http://images2.wikia.nocookie.net/__cb20100625062207/deadliestwarrior/images/thumb/4/4d/Db_KUSARIGAMA-_3_2_%281%29.jpg/316px-Db_KUSARIGAMA-_3_2_%281%29.jpg" class="thumbimage" width="316" height="195" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Có thể kể ra một vài loại như:  Ōkusari-gama (大鎖鎌) hay còn gọi là Nagi Kusari-gama thì có phần cán dài 4  &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C6%B0%E1%BB%9Bc_T%C3%A0u&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Thước Tàu (trang chưa được viết)"&gt;thước Tàu&lt;/a&gt;  (120cm), loại cán dài 7 thước gọi là Yae Kusari-gama (Nagi-gama), loại  này gắn thêm xích sắt thì gọi là Yae Kusari-gama, lại có loại gắn thêm  mũi giáo ở đầu lưỡi hái, vân vân. Loại có quả chùy xích sắt gắn ở đầu  lưỡi hái được chế tạo để sử dụng một tay, phân tán lực vào phần cổ tay  nên lưỡi hái nhỏ và dây xích cũng ngắn nên có thể vung từng nhát nhỏ.  Loại có quả chùy xích sắt gắn vào cái lưỡi hái được chế tạo với mục đích  sử dụng hai tay, phần lưỡi hái to và dây xích cũng rất dài (2~4m). Loại  này thường được gắn thêm phần bảo vệ tay giống như đốc kiếm ở cán để  tránh bị lưỡi hái làm bị thương khi bị địch thủ bắt được dây xích hay  khi ném dây xích. Tại &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n" title="Nhật Bản"&gt;Nhật Bản&lt;/a&gt;, các loại Kusari-gama thường được các lò rèn đồ gia dụng chế tạo, chỉ có một số rất ít được các lò rèn kiếm chế tạo.&lt;/p&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="C.C3.A1ch_s.E1.BB.AD_d.E1.BB.A5ng"&gt;Cách sử dụng&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Cách dùng cơ bản của loại võ khí này là ném quả chùy bằng dây xích  vào phần đầu, mặt, ống chân và cổ tay của đối thủ. Nếu quả chùy không  sát thương được thì dây xích cũng sẽ quấn chặt vào tay địch, chế ngự  chuyển động của địch và cuối cùng dùng lưỡi hái ở tay trái kết liễu đối  thủ. Đối với loại nhỏ có gắn quả chùy ở đầu lưỡi hái thì dùng một tay  múa dây xích, vừa tính toán khoảng cánh với địch mà ném quả chùy. Đối  với loại lớn có quả chùy gắn ở phần cán lưỡi hái thì tay phải nắm đoạn  xích gần quả chùy vài chục cm mà múa vòng, khi thấy đã đủ lực thì ném  thẳng quả chùy vào địch, giống như nguyên lý của ná bắn đá. Một khi đã  ném chùy ra thì phải mất thời gian mới thu hồi và quấn lại phần xích sắt  nên nhiều môn phái có thêm phần luyện tập đánh cận chiến nhỡ khi địch  tránh được quả chùy. Kusari-gama là món vũ khí lợi hại, vào tay cao thủ  có thể biến ảo khôn lường như rồng lượn rắn trườn nhưng rất khó sử dụng.  Phần lớn những người mới sử dụng đều bị chính quả chình của mình đập  vào người. Món vũ khí này cũng gần như không có tính phòng vệ, trong  phát ném đầu tiên mà đối thủ tránh được thì xem như đã bước chân vào tử  địa nên sử dụng vũ khí này phải có tâm lý "nhất kích tất sát".&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="Phi.C3.AAn_b.E1.BA.A3n_Vi.E1.BB.87t_Nam"&gt;Phiên bản Việt Nam&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Trong truyện ngắn "&lt;b&gt;Ném bút chì&lt;/b&gt;" (in trong tập "&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vang_b%C3%B3ng_m%E1%BB%99t_th%E1%BB%9Di&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Vang bóng một thời (trang chưa được viết)"&gt;Vang bóng một thời&lt;/a&gt;"), nhà văn &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Tu%C3%A2n" title="Nguyễn Tuân"&gt;Nguyễn Tuân&lt;/a&gt;  cũng viết về một loại võ khí gọi là "bút chì" tương tợ Kusari-gama, chỉ  khác là lưỡi mai thay cho lưỡi hái và không có quả chùy sắt và dây xích  được thay bằng dây thừng. Theo mô tả qua ngòi bút Nguyễn Tuân, người  dụng võ khí này tay phải cầm đốc ngọn mai, tay trái quấn chặt đoạn dây  thừng buộc chặt vào một đầu cán mai. Cách sử dụng cũng có khác  Kusari-gama ở chỗ ném lưỡi mai vào người đối thủ, đoạn dùng tay trái  giật về bằng đoạn dây thừng quấn quanh tay trái.&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;h2 style="font-family: arial;"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="M.E1.BB.A5c_li.C3.AAn_quan"&gt;Mục liên quan&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;ul style="font-family: arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kusari-gama_jutsu&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kusari-gama jutsu (trang chưa được viết)"&gt;Kusari-gama jutsu&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Miyamoto_Musashi_%28ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt%29" title="Miyamoto Musashi (tiểu thuyết)"&gt;Miyamoto Musashi (tiểu thuyết)&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="V.C4.83n_ki.E1.BB.87n_tham_kh.E1.BA.A3o"&gt;Văn kiện tham khảo&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;BAB Japan "Mọi điều về vũ khí mật" (秘武器の全てがわかる本), Iwai Kohaku biên soạn, xuất bản tháng 1 năm 1999, trang 94~110.&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;h2 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt; &lt;span class="mw-headline" id="Li.C3.AAn_k.E1.BA.BFt_ngo.C3.A0i"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;ul style="font-family: arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;a rel="nofollow" class="external text" href="http://chimviet.free.fr/vanhiendai/tienchie/chung/ngtn052.htm"&gt;Truyện ngắn "Ném bút chì"&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7847355902019024603?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7847355902019024603/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/kusari-gama.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7847355902019024603'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7847355902019024603'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/kusari-gama.html' title='Kusari-gama'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6279850181993690105</id><published>2011-12-08T22:14:00.000+09:00</published><updated>2011-12-08T22:15:30.331+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Yagyū Muneyoshi</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Yagyū Muneyoshi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (Yagyū Munetoshi, 柳生 宗厳) là một kiếm hào lừng danh thuộc phái kiếm &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Shinkage-ryū&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;. Ông sinh vào &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Daiei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Daiei (trang chưa được viết)"&gt;Daiei&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; thứ 7 (1527) và mất vào ngày 19 tháng 4 năm &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Keich%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Keichō (trang chưa được viết)"&gt;Keichō&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; thứ 11 (1606). Tước vị của ông là Tajima-nokami (quan đầu xứ Tajima), hiệu là &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Sekishūsai&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;  (sekishū, thạch chu, tức thuyền đá). Tên thường gọi của ông là  Shin-nosuke, Shinjirō, Shinzaemon, Uemon. Con cháu của ông có nhiều nhân  vật lừng lẫy như &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Munenori&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Munenori (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Munenori&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (con trai, sau giữ chức Chỉ nam dạy kiếm cho họ Tokugawa), &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Muneaki&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Muneaki (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Muneaki&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (con trai), &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Toshitoshi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Toshitoshi (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Toshitoshi&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (cháu nội), &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Yagy%C5%AB_J%C5%ABbei" title="Yagyū Jūbei"&gt;Yagyū Jūbei&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (cháu nội)...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;h2 style="font-family: arial;"&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Th.E1.BB.9Di_trai_tr.E1.BA.BB"&gt;Thời trai trẻ&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;br /&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Yagyū Muneyoshi là con trai của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Ieyoshi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Ieyoshi (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Ieyoshi&lt;/a&gt;, một võ tướng thời Chiến quốc Nhật Bản và là thành chủ thành Yamato, trưởng làng Yagyū ở xứ &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Yamato" title="Yamato"&gt;Yamato&lt;/a&gt;. Ban đầu Muneyoshi theo học phái kiếm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Toda-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Toda-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Toda-ryū&lt;/a&gt; với &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Toda_Itt%C5%8Dsai&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Toda Ittōsai (trang chưa được viết)"&gt;Toda Ittōsai&lt;/a&gt; (&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kanemaki_Jisai&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kanemaki Jisai (trang chưa được viết)"&gt;Kanemaki Jisai&lt;/a&gt;), sau theo &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Katori_Shinj%C5%ABr%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Katori Shinjūrō (trang chưa được viết)"&gt;Katori Shinjūrō&lt;/a&gt; học phái kiếm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Shint%C5%8D-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shintō-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Shintō-ryū&lt;/a&gt; và nổi danh từ đấy. Năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Eiroku&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Eiroku (trang chưa được viết)"&gt;Eiroku&lt;/a&gt; thứ 6 (1563), Muneyoshi gặp gỡ kiếm sư &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kami_Izumi_Nobutsuna&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kami Izumi Nobutsuna (trang chưa được viết)"&gt;Kami Izumi Nobutsuna&lt;/a&gt; thuộc phái &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Shinkage-ryū&lt;/a&gt; và thách đấu với vị này. Muneyoshi đấu cả 3 lần đều bại và cũng không thắng nổi đệ tử của Nobutsuna là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hikita_Kagetomo&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Hikita Kagetomo (trang chưa được viết)"&gt;Hikita Kagetomo&lt;/a&gt;. Nhận thấy sự non kém của mình, Muneyoshi lập tức quỳ lạy và xin làm đệ tử của Nobutsuna. Đến tháng 8 năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Eiroku&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Eiroku (trang chưa được viết)"&gt;Eiroku&lt;/a&gt; thứ 6 thì Muneyoshi được Nobutsuna trao cho ấn chứng và đến năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Genki&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Genki (trang chưa được viết)"&gt;Genki&lt;/a&gt;  thứ 2 (1571) thì được truyền thụ lại hết mọi yếu quyết cùng phái kiếm  Shinkage-ryū. Vì vậy phái kiếm Shinkage-ryū của Yagyū Muneyoshi được cho  là chánh lưu và gọi là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Shinkage-ryū&lt;/a&gt; còn phái kiếm của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hikita_Kagetomo&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Hikita Kagetomo (trang chưa được viết)"&gt;Hikita Kagetomo&lt;/a&gt; là phụ lưu, gọi là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hikita_Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Hikita Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Hikita Shinkage-ryū&lt;/a&gt;.&lt;/p&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;Thời trai trẻ Muneyoshi theo thờ &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tsutsui_Junkei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tsutsui Junkei (trang chưa được viết)"&gt;Tsutsui Junkei&lt;/a&gt;, sau theo &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Matsunaga_Hisahide&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Matsunaga Hisahide (trang chưa được viết)"&gt;Matsunaga Hisahide&lt;/a&gt;, đều là những võ tướng Chiến quốc xứ Yamato và là thuộc hạ của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Oda_Nobunaga" title="Oda Nobunaga"&gt;Oda Nobunaga&lt;/a&gt;.  Trong khoảng thời gian này ông gặp nhiều chuyện không may như bị trúng  tên ở tay trong một trận chiến khi theo họ Matsunaga, một lần khác bị  ngã ngựa nặng trên đường trở về cốc Yagyū vào năm Eiroku thứ 11. Năm  Genki thứ 2 (1571), con trưởng của ông là Yoshikatsu bị đạn bắn trọng  thương đến nỗi không cầm được kiếm. Sau đó ít lâu thì bản thân Muneyoshi  cũng quay về làng Yagyū ẩn dật, chẳng màng sự đời. Đến khi &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Matsunaga_Hisahide&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Matsunaga Hisahide (trang chưa được viết)"&gt;Matsunaga Hisahide&lt;/a&gt; mưu phản Oda Nobunaga thì ông cũng chính thức thoát khỏi quan hệ chủ tớ với họ Matsunaga, sau có &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tsutsui_Junkei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tsutsui Junkei (trang chưa được viết)"&gt;Tsutsui Junkei&lt;/a&gt; thay Matsunaga cai quản xứ Yamato thì ông cũng không theo. Muneyoshi còn bắt tay với võ tướng &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C5%8Dchi_T%C5%8Dnaga&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tōchi Tōnaga (trang chưa được viết)"&gt;Tōchi Tōnaga&lt;/a&gt;, cừu địch của họ Tsutsui để giữ thế độc lập. Nhưng đến năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tensh%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tenshō (trang chưa được viết)"&gt;Tenshō&lt;/a&gt;  thứ 13, khi Toyotomi Hidenaga vào xứ Yamato đã phát giác ông ngầm che  giấu ruộng đất trong cuộc kiểm tra ruộng đất của Hideyoshi. Vì vậy  Muneyoshi bị tịch thu lãnh thổ và trở thành võ sĩ giang hồ, có lần còn  đến ăn xin nhà &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Konoe_Sakihisa" title="Konoe Sakihisa"&gt;Konoe Sakihisa&lt;/a&gt;. Năm &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bunroku&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Bunroku (trang chưa được viết)"&gt;Bunroku&lt;/a&gt; thứ 3, khi thiên hạ từ tay họ Toyotomi chuyển sang họ &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tokugawa" title="Tokugawa" class="mw-redirect"&gt;Tokugawa&lt;/a&gt;, có lần Muneyoshi được Tướng quân &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tokugawa_Ieyasu" title="Tokugawa Ieyasu"&gt;Tokugawa Ieyasu&lt;/a&gt;  cho vời đến và biểu diễn tuyệt kỹ Mutō-dori trước mặt ngự tiền. Được  Ieyasu hết sức tán thưởng tài nghệ và mời làm chức kiếm thuật chỉ nam  (như chức giáo đầu) nhưng Muneyoshi viện cớ tuổi già và tiến cử con trai  thứ 5 là Munenori nhận chức thay. Từ đó Muneyoshi giao hết mọi việc thế  sự cho con trai, còn mình an hưởng tuổi già và mất tại cốc Yagyū, mộ  ông vẫn còn tại chùa &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C5%8Dtoku-ji&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Hōtoku-ji (trang chưa được viết)"&gt;Hōtoku-ji&lt;/a&gt; ở &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nara" title="Nara"&gt;Nara&lt;/a&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/p&gt;&lt;h2 style="font-family: arial;"&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Nh.C3.A2n_sinh_quan"&gt;Nhân sinh quan&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Vào những năm Genki, &lt;/span&gt;&lt;strong style="font-family: arial;" class="selflink"&gt;Yagyū Muneyoshi&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;  từ bỏ hết mọi ý định trở thành một võ tướng Chiến quốc cùng giấc mộng  xuất thế lập thân và lui về cốc Yagyū ẩn dật. Lúc này ông chỉ khoảng  trên 40 tuổi và không rõ vì sao Muneyoshi từ bỏ mộng công danh sớm như  vậy, nhưng có lẽ cái chết của sư phụ Kami Izumi đã tác động mạnh đến tư  tưởng của ông, cũng như sự sụp đổ của họ Tướng quân Ashikaga cùng cựu  chủ Matsunaga. Trong những bài thơ ông trước tác trong khoảng thời gian  này đều bộc lộ nổi hoài nghi của ông về mọi thứ ngoài phái kiếm &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Shinkage-ryū&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;.  Ngay cả thứ kiếm pháp này, ông cũng ví như con thuyền đá, chỉ chìm dưới  đáy nước chứ không nổi lên trên mặt. Đương thời, hễ là kẻ cầm kiếm và  có chút tài năng là có thể dùng võ nghệ để tiến thân, có thể làm đến  chức quan to. Nhưng Muneyoshi không coi kiếm phái của mình là công cụ để  tiến thân mà là một đường lối sống, một phương pháp rèn luyện thân,  tâm. Vì thế về sau ông lấy hiệu là Sekishūsai, trong đó "sekishū" (thạch  chu) nghĩa là "thuyền đá", con thuyền chỉ chìm dưới đáy nước chứ không  nổi lên để vượt qua bể đời vốn đầy biến động thăng trầm như sóng đại  dương. Nhân sinh quan của Yagyū Muneyoshi còn thể hiện qua khái niệm &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Vô đao&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; do ông lập nên và là một đặc thù lớn của phái kiếm &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yagy%C5%AB_Shinkage-ry%C5%AB&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yagyū Shinkage-ryū (trang chưa được viết)"&gt;Yagyū Shinkage-ryū&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6279850181993690105?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6279850181993690105/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/yagyu-muneyoshi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6279850181993690105'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6279850181993690105'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/12/yagyu-muneyoshi.html' title='Yagyū Muneyoshi'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1395203208592938959</id><published>2011-11-30T21:13:00.000+09:00</published><updated>2011-11-30T21:23:42.149+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Vô đao</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:#008000;"&gt;"Vô đao"&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (無刀, âm Nhật đọc là Mutō) nghĩa là không đao kiếm, không mang đao kiếm, không dùng đao kiếm. Đây là một khái&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; niệm quan trọng trong nền kiếm đạo Nhật Bản và có tầm ảnh hưởng quan  trọng đến nhiều phái kiếm như Yagyū Shinkage-ryū, Mutō-ryū,  Munen-ryū,... và có liên hệ mật thiết với khái niệm "hoạt nhân kiếm"  (Katsujin-ken).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Thanh kiếm vốn dĩ được xem là hung khí số một trong xã hội phong kiến  Nhật Bản, nhưng từ khi Tướng quân Tokugawa Ieyasu thống nhất thiên hạ,  mang lại nền thái bình kéo dài hơn 200 năm cho đất nước này thì vai trò  của thanh kiếm ngày càng mờ nhạt đi. Để thích ứng với bối cảnh lịch sử  này, tầng lớp võ sĩ đã đề xuất ra khái niệm "hoạt nhân kiếm", tức thanh  kiếm dùng để cứu người, làm thăng hoa nhân sinh chứ không còn là công cụ  để đoạt mạng như trước nữa. Trong thời đại này, người ta chú trọng về  mặt tinh thần của kiếm thuật hơn là những chiêu thức hung hiểm vốn có  của nó và nâng nó lên tầm một thứ triết học. Trong bối cảnh đó, xuất  hiện kiếm sư &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kami Izumi Ise-nokami Nobutsuna&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; vốn xuất thân từ một  thành chủ, nhưng sau từ bỏ địa vị của mình để theo đuổi một đời kiếm  đạo. Càng luyện kiếm, ông càng nhận ra rằng sự tồn tại của thanh kiếm là  không cần thiết, cũng như những chiêu thức của nó không nên dùng cho  việc đoạt mạng nhau. Tinh thần bất bạo động này khá tương đồng với lý  tưởng của môn võ Aikidō (Hiệp khí đạo) hiện đại.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một lần nọ, Kami Izumi cùng lão đệ Suzuki Ihaku cùng người cháu trai  Hikita Bungorō ghé đến xứ Yamato, là địa bàn của họ Yagyū. Lúc này Kami  Izumi đã nổi dang thiên hạ về kiếm nghệ nên đương chủ nhà Yagyū là  Muneyoshi, vốn là một võ sĩ đương tuổi hùng mạnh, đã nổi máu con nhà võ  và xin tỷ thí với Kami Izumi. Mặc cho &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Yagyū Muneyoshi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; đang thời trai trẻ hùng hổ xông vào, Kami Izumi &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; chỉ đẩy nhẹ là khống chế được Muneyoshi. Sau mấy lần tái đấu, kết quả  cũng đều không khác. Muneyoshi vô cùng ngạc nhiên và cảm phục tài nghệ  Kami Izumi nên xin trở thành đệ tử. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nhận thấy Muneyoshi là người có tư chất nên Kami Izumi Ise-nokami  Nobutsuna truyền lại mọi áo nghĩa của phái kiếm Shinkage-ryū do mình  sáng lập cùng một công án Thiền là "vô đao", lý tưởng và suy tư cả đời  của mình lại cho Muneyoshi rồi rời khỏi xứ Yamato.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nhận được công án, Muneyoshi ngày đêm nghiền ngẫm, cuối cùng cũng ngộ ra  được chân ý của áo nghĩa "vô đao". "Vô" là một cảnh giới trong Thiền  tông, và cũng là cảnh giới tối cao trong kiếm đạo. Kể từ khi ngộ được  công án này, Yagyū Muneyoshi chẳng màn gì đến chuyện đao kiếm nữa mặc dù  lúc này đã nổi danh là thiên hạ vô song. Từ công án này, ông sáng tạo  ra chiêu thức "Mutō-dori" hay còn gọi là "Shinken Shiraha-dori", chiêu  thức bắt kiếm bằng tay không trứ danh của phái Yagyū Shinkage-ryū.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Về già, Muneyoshi lấy hiệu là &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Sekishūsai&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; và truyền lại hết áo  nghĩa của tông phái cho cháu trai là Hyōgo-nosuke. Dòng họ Yagyū trải  qua nhiều đời vẫn luôn giữ vững gia phong, chuộng võ nghệ và là một  trong số hiếm hoi các dòng họ luôn sản sinh ra nhân tài qua nhiều thế  hệ. Họ Yagyū vẫn tự xem kiếm pháp của mình không phải là kiếm pháp của  thích khách. Ấy cũng là nhờ tinh thần "vô đao" do Kami Izumi Nobutsuna  truyền lại vậy.   &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1395203208592938959?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1395203208592938959/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/vo-ao.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1395203208592938959'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1395203208592938959'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/vo-ao.html' title='Vô đao'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-871440014824387824</id><published>2011-11-15T23:46:00.000+09:00</published><updated>2011-11-15T23:57:46.490+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Chūjō-ryū kenjutsu</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Chūjō-ryū&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; là một cổ phái (koryū) võ thuật Nhật Bản do Chūjō Nagahide&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; sáng lập vào đầu thời Muromachi (1336~1573). Chūjō-ryū còn là tên một&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; phái y học chuyên về sản phụ khoa do một cận thần của Toyotomi Hideyoshi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; khai sáng, nhưng bài này chỉ bàn về phái võ Chūjō-ryū mà thôi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:#008000;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Chūjō-ryū là một phái võ tổng hợp, ngoài kiếm thuật còn truyền dạy&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; thương thuật và đoản đao. Họ Chūjō đến đời cháu của Nagahide là&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Mitsuhide thì đoạn tuyệt, nhưng lưu phái Chūjō được Nagahide truyền thụ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; cho Kai Buzen-nokami Hirokage, rồi từ đó truyền lại cho môn đồ của Hirokage&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; là Ōhashi Kage Yuzaemon, Yuzaemon truyền lại cho Yamazaki Ukyō. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Sau đó Yamazaki Ukyō chết trận nên môn đồ của ông ta là Toda Kurōzaemon Nagaie&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; truyền lại phái kiếm này cho hai con trai của Yamazaki Ukyō.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Về phía họ Toda thì Nagaie cũng truyền thụ phái kiếm này cho&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; con trai là Jibu Saemon Kageie, Kageie lại truyền cho đích tử là&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Toda Seigen và Toda Kagemasa. Họ Toda đã phát triển thêm so với&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; phái Chūjō-ryū ban đầu nên gọi môn phái của mình là Toda-ryū, trong&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; khi đó họ Yamazaki vẫn gọi môn phái của mình là Chūjō-ryū.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Vì vậy, Chūjō-ryū và Toda-ryū là hai phái kiếm tách bạch nhưng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; đều có chung một nguồn gốc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phái kiếm Chūjō-ryū của họ Yamazaki vẫn còn truyền dạy ở Nhật&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; cho đến đầu thời kỳ Shōwa nhưng hiện nay đã thất truyền. Đây là&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; môn phái để lại nhiều ảnh hưởng lớn cho phái kiếm Toda-ryū và&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Ittō-ryū.   &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-871440014824387824?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/871440014824387824/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/chujo-ryu-kenjutsu.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/871440014824387824'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/871440014824387824'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/chujo-ryu-kenjutsu.html' title='Chūjō-ryū kenjutsu'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7697204729546752102</id><published>2011-11-07T04:09:00.001+09:00</published><updated>2011-11-07T04:09:52.381+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Trypoxylus dichotomus</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" class="postrow has_after_content"&gt;                                              &lt;div class="content"&gt;      &lt;div id="post_message_450339"&gt;       &lt;blockquote class="postcontent restore "&gt;        &lt;span style="color:#ff0000;"&gt;Trypoxylus dichotomus&lt;/span&gt; là loài côn trùng đặc trưng của đất nước Nhật Bản.&lt;br /&gt;Bọ cánh cứng, con đực có kích thước 30~45 cm chưa kể chiều dài sừng,  được mệnh danh là vua của các loài côn trùng (ở Nhật). Đặc trưng của con  đực là chiếc sừng dài như chiếc sừng của cái mũ đâu mâu của các võ sĩ  Samurai ngày xưa, vì thế có tên là &lt;b&gt;Kabuto mushi&lt;/b&gt; (bọ mũ đâu mâu, mũ trụ), người Mỹ trực dịch gọi là &lt;b&gt;Samurai Helmet Beetle&lt;/b&gt; (bọ mũ Samurai) hoặc &lt;b&gt;Japanese rhinoceros beetle&lt;/b&gt; (bọ tê giác Nhật).&lt;br /&gt;Loài bọ này giữ vị trí quán quân về kích thước côn trùng ở Nhật cho đến  năm 1983 khi người ta phát hiện ra một loài bọ hiếm có kích cỡ to hơn ở  Okinawa.&lt;br /&gt;Trypoxylus dichotomus sống chủ yếu ở rừng cây lá rộng cao dưới 1500m,  phân bố từ đảo Honshū trở xuống phía Nam cho đến Okinawa. Bên ngoài Nhật  Bản, loài bọ cánh cứng này còn được tìm thấy ở Đài Loan, Triều Tiên và  Trung Quốc. Người TQ gọi nó là "&lt;b&gt;độc giác tiên&lt;/b&gt;". Loài bọ này thích những loài hoa quả nhiều nước như dưa hấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://u1.ipernity.com/12/37/50/5833750.2304761e.500.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://u1.ipernity.com/12/37/50/5833750.2304761e.500.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài bọ này là một sinh vật đại diện cho đất nước Nhật Bản. Nó thường  xuất hiện trong văn hóa đại chúng của đất nước này như Anime, Manga và  phim ảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210820.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210820.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210821.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210821.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210822.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210822.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210823.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210823.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210824.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210824.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210825.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210825.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210826.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210826.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210828.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210828.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210831.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210831.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mẫu Origami Trypoxylus dichotomus do Dr. Robert J. Lang thiết kế từ 01  tờ giấy vuông là một trong những mẫu bọ hoàn hảo nhất thuộc loài này.  Mẫu vật thể hiện được hết những đặc điểm của Trypoxylus dichotomus như  chiếc sừng dài và sừng nhỏ ở phần đầu, các khớp chân đặc trưng của côn  trùng và miếng tam giác nối giữa đầu và ngực cũng như đường rãnh gấp  cánh trên lưng bọ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210836.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210836.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210837.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210837.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210841.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1210841.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220064.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220064.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220068.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220068.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220058.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220058.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bonus:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220062.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/P1220062.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;       &lt;/blockquote&gt;      &lt;/div&gt;            &lt;/div&gt;    &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7697204729546752102?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7697204729546752102/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/trypoxylus-dichotomus.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7697204729546752102'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7697204729546752102'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/trypoxylus-dichotomus.html' title='Trypoxylus dichotomus'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://i1183.photobucket.com/albums/x471/bugei-manga/Imgr/th_P1210820.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-8255113230193698248</id><published>2011-11-03T11:49:00.002+09:00</published><updated>2011-11-03T12:09:57.355+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Hōzō-in-ryū Sōjutsu</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Thương thuật Hōzō-in (宝蔵院流槍術, Hōzō-in-ryū Sōjutsu) là một phái thương&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;thuật Nhật Bản sử dụng ngọn thương chữ thập do &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Hōzō-in Kakuzenbō In-ei&lt;/span&gt;, một tăng binh của chùa Kōfuku-ji (Hưng phúc tự) ở Nara khai sáng. Ngoài thương pháp, phái này còn truyền dạy thuật đánh Naginata, một võ khí đặc trưng của Nhật Bản với cán dài như cán thương nhưng đầu kia gắn một lưỡi đao sắc. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Khai tổ của phái là Kakuzenbō In-ei, đệ tử đời thứ hai là Inshun, đời thứ ba là Insei và đời thứ tư là Infū.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Võ khí đặc trưng của phái này là thương chữ thập (Jūmoji yari). Khác với các loại thương thông thường, tại phần mũi thương của nó có gắn thêm lưỡi dao sắc hình trăng lưỡi liềm nên có thể vừa đâm như giáo, vừa chém gạt như Naginata. So với các loại thương thông thường thì nó có nhiều ưu điểm hơn về mặt tấn công và phòng thủ nên đương thời, phong trào theo học thương pháp Hōzō-in nở rộ một thời.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img alt="" src="http://ne9.upanh.com/b4.s4.d3/533415e597b44381466e7c0a96d9e392_37453159.img56722954.700x0.jpg" id="main_img" style="max-height: 450px; visibility: visible;" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Tương truyền rằng Kakuzenbō In-ei trong một đêm tập võ nhìn thấy bóng trăng lưỡi liềm in trên mặt ao Saruzawa và bị ấn tượng với hình ảnh đó nên đã chế ra mũi thương chữ thập.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Hiện tại chỉ còn nhánh Takada của Hōzō-in-ryū là còn truyền dạy nhưng không thành hệ thống và cũng thất truyền các kỹ thuật đánh Naginata.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);font-family:arial;" &gt;Khai tổ Hōzō-in In-ei&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;In-ei sinh năm đầu của niên hiệu Daiei (1521) và mất năm Keichō thứ 12 (1607) là một tăng binh, một võ thuật gia trong chùa Kōfuku-ji, hiệu là Kakuzenbō và là viện chủ của Hōzō-in (Bảo tàng viện), một tự viện con của Kōfuku-ji.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Hōzō-in In-ei vốn là chỗ thâm giao với Yagyū Muneyoshi, theo lời khuyên của ông này đã đến học võ nghệ với Kamiizumi Nobutsuna, khai tổ của phái kiếm Shikage-ryū. Ngoài ra ông còn theo học với rất nhiều thầy khác, nhưng trong đó chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ võ phái Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū, một trong ba tông phái khởi nguyên của võ nghệ Nhật Bản.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Vào những năm cuối đời, In-ei thấy thương pháp của mình mâu thuẫn với giới cấm sát sinh nên không động đến giáo mác nữa, truyền giao toàn bộ võ cụ cho cao đồ Nakamura Naomasa và sống như một tăng lữ bình thường. Người kế thừa thương thuật của ông là viện chủ Hōzō-in đời thứ hai Inshun. Trong các môn đồ của ông có nhiều danh tướng dưới trướng của các sứ quân, tiêu biểu là Kani Saizō, một dũng tướng của Fukushima Masanori.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(204, 0, 0);font-family:arial;" &gt;Hōzō-in Inshun&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Inshun sinh năm Tenshō thứ 17 (1589), mất năm Shōhō thứ 5 (1648), là một nhà sư và một võ đạo gia đầu thời Edo. Ông là viện chủ Hōzō-in, một tự viện con của chùa Kōfuku-ji ở Nara.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Inshun xuất thân từ gia đình hào sĩ ở xứ Yamashiro và là người thừa kế thương thuật Hōzō-in do Kakuzenbō In-ei sáng lập. Inshun là người hoàn thiện hệ thống thương thuật Hōzō-in trong thời Edo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;©N.T.Duyên 2011&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-8255113230193698248?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/8255113230193698248/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/hozo-in-ryu-sojutsu.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8255113230193698248'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8255113230193698248'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/11/hozo-in-ryu-sojutsu.html' title='Hōzō-in-ryū Sōjutsu'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-2206560589546767284</id><published>2011-10-27T23:25:00.002+09:00</published><updated>2011-10-27T23:37:46.427+09:00</updated><title type='text'>Cha và con</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" class="content"&gt;    &lt;div id="post_message_34087"&gt;     &lt;blockquote class="postcontent restore"&gt;      &lt;b&gt;(Dành cho những ai đã xem bộ phim Sói mang con&lt;/b&gt;)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sói mang con (Kozure Ôkami, hay Lone wolf and Cub) là bộ phim về tình  cha con cảm động nhất tôi từng xem. Dưới đây là bài hát chủ đề trong  phim&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=IPgWaBatlxM"&gt;Nghe bài hát&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tạm&lt;/b&gt; dịch lời&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ có cha mới hiểu được con,&lt;br /&gt;chỉ có con mới thấu lòng cha...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Trong một căn nhà bỏ hoang nơi chân thành đổ nát,&lt;br /&gt;có một đứa trẻ đang đợi cha.&lt;br /&gt;Lẽ ra sáng nay cha đã trở về rồi.&lt;br /&gt;Đã hết sáng ngày thứ ba, đã đến đêm ngày thứ tư.&lt;br /&gt;Buổi sáng ngày thứ năm trời đổ cơn mưa)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp&lt;br /&gt;Từng giọt mưa lạnh làm tê cóng tâm hồn non trẻ&lt;br /&gt;Em đang đợi người cha không trở về&lt;br /&gt;Vì cha em làm nghề thích khách&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp&lt;br /&gt;Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cha nuốt nước mắt đi chém người&lt;br /&gt;Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy&lt;br /&gt;Em hóa xương khô trong cơn mưa lạnh&lt;br /&gt;Em hóa xương khô trong cơn mưa lạnh&lt;br /&gt;Ahh Daigorō vừa mới lên ba&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp&lt;br /&gt;Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vù vù, gió thổi vù vù&lt;br /&gt;Vù vù, gió thổi vù vù&lt;br /&gt;Em run từng cơn đói trong cơn gió bắc&lt;br /&gt;Cha không trở về giờ đang ở đâu&lt;br /&gt;Vì cha em làm nghề thích khách&lt;br /&gt;Vù vù, gió thổi vù vù&lt;br /&gt;Vù vù, gió thổi vù vù&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cha nuốt nước mắt đi chém người&lt;br /&gt;Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy&lt;br /&gt;Em về với đất trong cơn gió lạnh&lt;br /&gt;Em về với đất trong cơn gió lạnh&lt;br /&gt;Ahh Daigorō vừa mới lên ba&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Buổi sáng thứ sáu trời đổ sương&lt;br /&gt;Sương biệt ly báo hiệu khí tiết thay đổi)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sương rơi, sương rơi não nùng&lt;br /&gt;Sương rơi biệt ly trong cơn mưa lạnh&lt;br /&gt;Chân em dẫm sương như tê dại&lt;br /&gt;Em vẫn ra đi tìm cha&lt;br /&gt;Vì cha em làm nghề thích khách&lt;br /&gt;Sương rơi, sương rơi não nùng&lt;br /&gt;Sương rơi, sương rơi não nùng&lt;br /&gt;Cha nuốt nước mắt đi chém người&lt;br /&gt;Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy&lt;br /&gt;Em đứng chết cóng trong cơn sương này&lt;br /&gt;Em đứng chết cóng trong cơn sương này&lt;br /&gt;Ahh Daigorō vừa mới lên ba&lt;br /&gt;Sương rơi, sương rơi não nùng&lt;br /&gt;Sương rơi, sương rơi não nùng     &lt;/blockquote&gt;    &lt;/div&gt;          &lt;/div&gt;                                                  &lt;blockquote style="font-family: arial;" class="signature restore"&gt;&lt;div class="signaturecontainer"&gt;&lt;a href="http://daiwakon.blogspot.com/" target="_blank"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:seagreen;"&gt;&lt;b&gt;Hợp khí&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;a href="http://forum.origami.vn/profile.php?do=editprofilepic" target="_blank"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-7a969815efd58699" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v23.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3D7a969815efd58699%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D19AFA63E25BE025B2AB2B3D9316C6B60D2964B09.6A375F21670C38EA2D41004242ED4E4592F2FBF0%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D7a969815efd58699%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DVWAVgTfDgwJdB6wXRcsOfoQke8E&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v23.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3D7a969815efd58699%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D19AFA63E25BE025B2AB2B3D9316C6B60D2964B09.6A375F21670C38EA2D41004242ED4E4592F2FBF0%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D7a969815efd58699%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DVWAVgTfDgwJdB6wXRcsOfoQke8E&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-b742de215e17126c" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v21.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3Db742de215e17126c%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D828E5766375CD0029B02E5B23139322E508880BD.50519D04E81C77AAB6FE222F48B6DCBCB1142844%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3Db742de215e17126c%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DPVN5IXYpBBIV0MgETv3zVkRxTZA&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v21.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3Db742de215e17126c%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D828E5766375CD0029B02E5B23139322E508880BD.50519D04E81C77AAB6FE222F48B6DCBCB1142844%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3Db742de215e17126c%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DPVN5IXYpBBIV0MgETv3zVkRxTZA&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-2206560589546767284?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/2206560589546767284/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/cha-va-con.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2206560589546767284'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2206560589546767284'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/cha-va-con.html' title='Cha và con'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3505845638219099435</id><published>2011-10-26T23:38:00.000+09:00</published><updated>2011-10-26T23:39:36.598+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Longhead Locust</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Giấy nến&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 30x30 cm&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne8.upanh.com/b5.s19.d1/8cbe7df8ba4aa6ed9ae7c88c61f0142e_37103408.p1210561.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne5.upanh.com/b6.s7.d2/3fb5725561c873d6841ee09738f283fc_37103415.p1210562.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne9.upanh.com/b1.s8.d3/56791f0cbc7a551890d3ae19a0258dd2_37103419.p1210563.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne0.upanh.com/b5.s17.d2/4273fb200295c651c1f742f4a654e574_37103420.p1210566.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne7.upanh.com/b4.s5.d3/cfd5f4b5fe738a5dfb43d14f28f2fa25_37103427.p1210567.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne3.upanh.com/b5.s20.d1/ad4ab5c94d572a6a8398cbcbabbb76f6_37103433.p1210568.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne7.upanh.com/b5.s20.d1/85aae98134b459b90dbc0fda2c28fc39_37103437.p1210597.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne3.upanh.com/b1.s15.d2/0cd0a99926e1aaa02d64c10797c4ca0a_37103443.p1210598.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne0.upanh.com/b2.s5.d3/000013c173561c06b446a07d36be0b15_37103450.p1210599.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne8.upanh.com/b1.s7.d2/9a15946a5218363c25501cbe311dfb61_37103458.p1210604.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne5.upanh.com/b3.s5.d4/d045f3e167166f0aff27b515c1c449e5_37103465.p1210607.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ne5.upanh.com/b4.s18.d1/3e5a5e51027504c9257509535eddfa6b_37103405.p1210784.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3505845638219099435?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3505845638219099435/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/longhead-locust.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3505845638219099435'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3505845638219099435'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/longhead-locust.html' title='Longhead Locust'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3803733524629140850</id><published>2011-10-21T23:47:00.000+09:00</published><updated>2011-10-21T23:48:21.168+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Tiger head</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hổ đầu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Giấy xi măng 25x25cm&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://ne9.upanh.com/b6.s12.d3/de573050fdcf1123eb36f429d2f75d48_36860659.p1210552.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://ne9.upanh.com/b6.s12.d3/de573050fdcf1123eb36f429d2f75d48_36860659.p1210552.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3803733524629140850?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3803733524629140850/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/tiger-head.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3803733524629140850'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3803733524629140850'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/tiger-head.html' title='Tiger head'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-9060381282940059889</id><published>2011-10-18T23:51:00.004+09:00</published><updated>2012-01-11T22:42:39.678+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Manga: Vagabond tiếng Việt</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" style="font-family: arial;" href="http://3.bp.blogspot.com/-hfQDz93d5CI/Tp2Sv0hYzcI/AAAAAAAAAFI/NAQt30pPSVw/s1600/Vagabond_03-043.jpg"&gt;&lt;img style="display: block; margin: 0px auto 10px; text-align: center; cursor: pointer; width: 222px; height: 320px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-hfQDz93d5CI/Tp2Sv0hYzcI/AAAAAAAAAFI/NAQt30pPSVw/s320/Vagabond_03-043.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5664845256552140226" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Người nào biết nỗi ê chề khi thua trận thì cũng biết&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;niềm hoan hỷ đến chảy nước mắt khi thắng trận.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Tương tự, nếu như thờ ơ trước cái chết thì cũng&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;sẽ không cảm nhận được hết sự sống.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Hạnh phúc là gì, là hãy biết cảm tạ những thứ mình đang có.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Điều này tuy đơn giản nhưng lại khó, tuy khó nhưng &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;lại đơn giản.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Inoue Takehiko&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Download: http://www.mediafire.com/?r5rgvh7cx0y4c&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-9060381282940059889?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/9060381282940059889/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/manga-vagabond-tieng-viet.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/9060381282940059889'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/9060381282940059889'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/manga-vagabond-tieng-viet.html' title='Manga: Vagabond tiếng Việt'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-hfQDz93d5CI/Tp2Sv0hYzcI/AAAAAAAAAFI/NAQt30pPSVw/s72-c/Vagabond_03-043.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5817842514403016303</id><published>2011-10-12T00:40:00.001+09:00</published><updated>2011-10-12T00:40:38.271+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Cá vàng Ryukin</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Cá vàng Ryukin&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Gấp từ 01 tờ giấy Kami Nhật, 23x23cm&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210193.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210193.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210194.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210194.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210198.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210198.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210199.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210199.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210210.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210210.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210211.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210211.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210212.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210212.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210213.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/P1210213.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5817842514403016303?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5817842514403016303/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/ca-vang-ryukin.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5817842514403016303'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5817842514403016303'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/ca-vang-ryukin.html' title='Cá vàng Ryukin'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-721086267623982710</id><published>2011-10-09T19:51:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:32:23.028+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Yoshikawa Eiji: Miyamoto Musashi</title><content type='html'>&lt;div id="post_message_7600368"&gt;        &lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:Arial;"&gt;"&lt;b&gt;Miyamoto Musashi&lt;/b&gt;" (宮本武蔵) là một trường thiên tiểu thuyết&lt;br /&gt;được đăng tải trên báo Asahi của nhà văn &lt;b&gt;Yoshikawa Eiji&lt;/b&gt;. Tác phẩm&lt;br /&gt;này được đăng liên tục từ ngày 23 tháng 8 năm 1935 đến ngày&lt;br /&gt;11 tháng 7 năm 1939. Nội dung tác phẩm viết về cuộc đời kiếm sĩ&lt;br /&gt;của nhân vật lịch sử &lt;b&gt;Miyamoto Musashi&lt;/b&gt; (thế kỷ 16) từ thuở thiếu niên, quyết&lt;br /&gt;lập thân bằng kiếm đạo cho đến lúc trở thành kiếm sĩ vang danh thiên hạ.&lt;br /&gt;Đồng thời, thông qua nhân vật Musashi, tác phẩm cũng đề cập đến&lt;br /&gt;cuộc đời của các kiếm khách xung quanh Musashi và những biến động&lt;br /&gt;của xã hội Nhật Bản đương thời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://nd5.upanh.com/b4.s2.d2/51d57397cbbf9b72dafb0d4ae4c24fb4_36301285.e00366778485570.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Bộ 8 cuốn Tankōbon&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác phẩm này mô tả kiếm hào Miyamoto Musashi, khai tổ của phái&lt;br /&gt;song kiếm Nitō-ryū dưới khía cạnh của một người cầu đạo, nhận thức&lt;br /&gt;sự đời dưới góc độ vô thường nên đã đánh trúng tâm lý người dân&lt;br /&gt;Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh Thái bình dương. Người Nhật&lt;br /&gt;đọc "Miyamoto Musashi" trong bối cảnh đất nước bị chiến tranh tàn phá,&lt;br /&gt;họ tìm thấy ở Miyamoto Musashi tinh thần cầu đạo mãnh liệt, tinh tấn&lt;br /&gt;dũng mãnh vượt qua mọi nghịch cảnh của cuộc đời. Trải qua thời kỳ&lt;br /&gt;kinh tế bong bóng sụp đổ, một lần nữa người dân Nhật Bản lại tìm&lt;br /&gt;đến Musashi như một nguồn động viên mãnh liệt để vượt qua bao&lt;br /&gt;khó khăn trong cuộc đời. Vì vậy tuy có rất nhiều tác giả, nhiều tiểu&lt;br /&gt;thuyết viết về kiếm thánh Miyamoto Musashi nhưng bản tiểu thuyết&lt;br /&gt;của Yoshikawa Eiji vẫn được đánh giá là một trong những bộ tiểu thuyết  được dân chúng Nhật yêu thích nhất, là bộ sách gối đầu giường cho bao&lt;br /&gt;thế hệ người Nhật Bản, trở thành một đại biểu lớn cho nền văn học đại&lt;br /&gt;chúng của đất nước này và cũng là một trong những bộ sách bán chạy&lt;br /&gt;nhất tại nước này.&lt;br /&gt;Sau khi kết thúc đăng tải trên mặt báo, Miyamoto Musashi được&lt;br /&gt;xuất bản dưới dạng sách bỏ túi (Tankōbon) và ảnh hưởng nhiều đến&lt;br /&gt;các tác phẩm ở mọi thể loại khác lấy đề tài về nhân vật Musashi như&lt;br /&gt;Manga, Anime, điện ảnh, kịch nói, game......&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác phẩm mở đầu bằng cảnh Shinmen Takezō bại chiến khi&lt;br /&gt;tham gia vào Tây quân trong cuộc phân tranh thiên hạ giữa họ&lt;br /&gt;Tokugawa và họ Ishida trên chiến trường Sekigahara vào đầu&lt;br /&gt;thế kỷ 16. Thuở thiếu niên, Takezō ôm mộng xuất thế lập thân,&lt;br /&gt;rủ người bạn thân là Matahachi cùng rời bỏ làng Miyamoto để&lt;br /&gt;xuất trận hòng tìm công danh với đời. Tây quân bại trận tan tác,&lt;br /&gt;để báo tin Matahachi đã lưu lạc tha phương, Takezō trở về làng&lt;br /&gt;Miyamoto nhưng gặp phải sự phản kháng, truy đuổi từ bà cụ&lt;br /&gt;Osugi, mẹ của Matahachi. Như con thú hoang bị dồn vào đường cùng,&lt;br /&gt;Takezō ra sức chém giết bất kỳ ai đến gần mình, tâm cảnh&lt;br /&gt;lâm vào chỗ rách nát khôn cùng. Giữa lúc đó, thiền sư&lt;br /&gt;Takuan Sōhō và thiếu nữ thánh thiện Otsū xuất hiện, giúp Takezō làm&lt;br /&gt;lại cuộc đời.&lt;br /&gt;Trải qua 3 năm giam mình trong thạch thất, đọc sách thánh hiền, Shinmen  Takezō lấy tên làng Miyamoto làm họ, đổi tên thành Musashi và lập chí&lt;br /&gt;xuất thân bằng kiếm đạo, truy đuổi cái ráo riết tột cùng của kiếm đạo&lt;br /&gt;trên con đường "kiếm thiền nhất như" đầy gian khổ. Tác phẩm kết thúc&lt;br /&gt;sau khi Musashi trải qua quá trình rèn luyện thân, tâm khắc kỷ, trở thành&lt;br /&gt;kiếm khách được thiên hạ mến mộ và đánh bại địch thủ Sasaki Kojirō&lt;br /&gt;trên đảo Ganryū.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Bối cảnh ra đời&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Yoshikawa Eiji viết bộ "Miyamoto Musashi" giữa lúc tranh luận với nhà văn&lt;br /&gt;Kikuchi Kan và Naoki Sanjūgo về vấn đề Miyamoto Musashi có phải là một  danh nhân hay không. Năm 1932, Naoki phát biểu một bài về Miyamoto  Musashi, trong đó phê phán Musashi ở nhiều góc độ. Để phản biện, Kikuchi  Kan lại đưa ra những luận cứ chứng tỏ Musashi là một nhân vật đáng  ngưỡng mộ. Giữa lúc tranh luận, Naoki có hỏi Yoshikawa rằng theo ý kiến  của bên nào thì Yoshikawa đáp đồng ý với luận thuyết của Kikuchi. Đến  khi Naoki bảo Yoshikawa hãy phát biểu lý do vì sao Musashi lại là danh  nhân thì&lt;br /&gt;Yoshikawa chỉ lặng yên không đáp.&lt;br /&gt;Đến năm 1935, Yoshikawa bắt đầu viết "Miyamoto Musashi" và đăng trên báo  Asahi Shimbun. Dự định ban đầu chỉ là vài chục chương nhưng không ngờ,  độc giả tỏ ra hết sức ái mộ nên Yoshikawa đã triển khai khéo léo đến hơn  hai trăm chương. Tác phẩm này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều đạo&lt;br /&gt;diễn và kể từ bộ phim đầu tiên về "Miyamoto Musashi" năm 1936, cho đến  nay đã có khoảng vài chục bộ phim khác ra đời. Tác phẩm của Yoshikawa  Eiji cũng ảnh hưởng không ít đến các loại hình nghệ thuật khác, cho dù  nó có nhìn nhận nhân vật lịch sử Miyamoto Musashi dưới góc độ nào đi  nữa.&lt;br /&gt;Miyamoto Musashi trở thành một hình tượng được mến mộ trong lòng quốc  dân Nhật cũng nhờ một phần lớn ở tác phẩm của Yoshikawa Eiji.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Nhân vật&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hầu hết các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm đều là nhân vật lịch sử, được&lt;br /&gt;Yoshikawa Eiji miêu tả đầy trực quan và sinh động. Yoshikawa xây dựng hình&lt;br /&gt;tượng Miyamoto Musashi dưới khía cạnh một kẻ cầu đạo, một tinh thần tinh&lt;br /&gt;tấn dũng mãnh, khắc kỷ, luôn tìm kiếm những giá trị mới, cảnh giới tốt  đẹp hơn của bản thân. Musashi tượng trưng cho tinh thần kỷ luật, tính  khắc kỷ,&lt;br /&gt;cầu đạo, quả cảm của người Nhật. Nhân vật thiền sư Takuan Sōhō là một&lt;br /&gt;người thầy chỉ dẫn Musashi thuở còn nông cạn và luôn đưa ra những lời&lt;br /&gt;khuyên khi Musashi phân vân, lạc lối.&lt;br /&gt;Bên cạnh đó, Yoshikawa cũng &lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;hư cấu&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; nên hệ thống nhân vật Matahachi, bà cụ Osugi, Otsū để tượng trưng cho từng loại tính cách của con người.&lt;br /&gt;Nếu như Matahachi tượng trưng cho sự sa ngả, hư hỏng thì bà cụ Osugi&lt;br /&gt;lại là điển hình cho lòng cố chấp, bảo thủ của con người. Trong khi đó Otsū&lt;br /&gt;lại là hình ảnh tượng trưng cho lòng vị tha, bao dung của con người.  Trải qua biết bao oan khiên và sóng gió mà bà cụ Osugi gây ra, Otsū vẫn  quyết&lt;br /&gt;định tha thứ và cứu bà khi lâm nạn. Cuối cùng, cụ Osugi tỉnh ngộ và không&lt;br /&gt;còn đeo bám theo Otsū để báo thù nữa, thật đúng với câu "Bồ đề tâm&lt;br /&gt;có công năng bẻ gãy mọi ác pháp".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Bối cảnh xã hội&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Miyamoto Musashi mở đầu bằng cuộc giao tranh kinh thiên động&lt;br /&gt;địa trên chiến trường Sekigahara. Cuộc chiến này đã chấm dứt&lt;br /&gt;thời kỳ Chiến quốc loạn lạc kéo dài một thế kỷ. Giờ đây thiên hạ thái bình&lt;br /&gt;dưới sự thống trị của họ Tướng quân Tokugawa nên xã hội cũng có nhiều&lt;br /&gt;biến động đáng kể. Tầng lớp võ sĩ vốn được trọng vọng trong thời chiến&lt;br /&gt;bỗng dưng mất đi vị trí trong thời bình. Không còn những trận giao tranh&lt;br /&gt;nữa nên võ nghệ dần đi vào thoái trào, võ sĩ không còn đường lập công&lt;br /&gt;danh nhờ sự chém giết nữa. Thời thái bình, thông thương phát triển khiến&lt;br /&gt;tầng lớp con buôn chợ búa vốn bị khinh ghét trong xã hội trước đó bỗng&lt;br /&gt;trở thành một thế lực lớn dần buộc người ta phải cuối đầu. Đó là thời  khắc giao mùa của xã hội võ gia với xã hội vật chất thực dụng, bọn con  buôn dần chiếm ưu thế trong xã hội với những ngón đòn ma mãnh. Đọc  "Miyamoto Musashi", người ta thấy rõ sự sa sút, đọa lạc của những danh  gia vọng tộc xuất thân từ võ sĩ như nhà Yoshioka. Một sự đọa lạc đến bi  đát mà sự thay đổi của xã hội đóng một phần lớn vai trò.&lt;br /&gt;Thế nhưng cũng không có nghĩa là tinh thần thượng võ trong xã hội Nhật Bản&lt;br /&gt;đương thời bị lãng quên mà nó bắt đầu chuyển mình sang một hình thái mới.&lt;br /&gt;Không còn chiến tranh nên các kỹ năng chém giết của võ sĩ dần đi vào chỗ&lt;br /&gt;không còn đất dùng, vì vậy nó chuyển hướng sang khía cạnh tinh thần.&lt;br /&gt;Người đọc "Miyamoto Musashi" có thể thấy rõ sự chuyển mình của võ nghệ,&lt;br /&gt;kiếm pháp trong thời đại này. Nó hướng đến những giá trị tinh thần, tính  khắc kỷ và cầu đạo. Đại diện cho khuynh hướng này là "hoạt nhân kiếm"  (Katsujinken) của phái Yagyū-ryū mà đại biểu là Yagyū Muneyoshi. Kiếm  thuật không còn là hung khí để giết người nữa mà trở thành một công cụ  để&lt;br /&gt;người cầm kiếm hoàn thiện bản thân mình, rèn luyện thân tâm đến cảnh  giới kiếm thiền nhất như. Kiếm đạo và Thiền đạo hòa làm một.&lt;br /&gt;Nhân vật Miyamoto Musashi cũng là một đại diện cho xu thế này. Trải qua&lt;br /&gt;nhiều cuộc giao tranh đẫm máu, cuối cùng Musashi nhận ra rằng cần phải&lt;br /&gt;hướng kiếm thuật đến chỗ chân thiện mỹ với sự trợ giúp của thiền sư&lt;br /&gt;Takuan Sōhō. Sau khi đánh bại đối thủ mạnh nhất đời mình là Sasaki Kojirō,&lt;br /&gt;Musashi từ bỏ đường giang hồ, lui về ở ẩn và để lại cho hậu thế biết bao&lt;br /&gt;danh tác nghệ thuật cùng cuốn sách "Ngũ luân thư" (Gorin-no-sho) được&lt;br /&gt;lưu truyền đến ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;©N.T.Duyên 2011&lt;/span&gt;   &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-721086267623982710?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/721086267623982710/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/yoshikawa-eiji-miyamoto-musashi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/721086267623982710'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/721086267623982710'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/yoshikawa-eiji-miyamoto-musashi.html' title='Yoshikawa Eiji: Miyamoto Musashi'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-9028133234899696826</id><published>2011-10-04T22:15:00.001+09:00</published><updated>2011-10-04T22:15:54.954+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Shizuoka Semi</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Giấy cực mỏng, ve sầu, Như Thị Duyên và màu acrylic&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://nd1.upanh.com/b2.s16.d2/c119eb8c013c14d704d2c2371d5f1b4a_36070071.acrilic1.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://nd4.upanh.com/b6.s16.d2/5d3775db293dcb1acb64243c6d4992c3_36070074.acrilic.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-9028133234899696826?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/9028133234899696826/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/shizuoka-semi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/9028133234899696826'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/9028133234899696826'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/shizuoka-semi.html' title='Shizuoka Semi'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4578935424046034412</id><published>2011-10-02T16:11:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:33:16.587+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Đầu thai ma giới</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Makai Tenshō (&lt;/span&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;魔界転生&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;, Hán viêt: ma giới chuyển sanh) là  tên một cuốn tiểu thuyết truyền kỳ của văn hào Nhật Bản Yamada Fūtarō.  Tác phẩm này được đăng tải dài kỳ trên báo Ōsaka shimbun từ tháng 12 năm  1964 cho đến tháng 2 năm sau. Tác phẩm này sau đó được tập hợp thành  bản bỏ túi (tankōbon) vào năm 1967.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Makai Tenshō còn là tên bí thuật xuất hiện trong tác phẩm.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Ban đầu tác phẩm có tên là Oboro Ninpōchō và tên này được giữ mãi cho  đến khi xuất bản phiên bản bỏ túi, nhưng đến năm 1981, khi tác phẩm lần  đầu tiên được chuyển thể thành phim ảnh thì Yamada đã đổi tên tác phẩm  như hiện nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;font-size:130%;" &gt;&lt;strong&gt;Nội dung&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Yui Shōsetsu, một nhà nghiên cứu binh pháp tình cờ gặp gỡ đạo sĩ Mori  Sōiken và bàn chuyện cùng với Tokugawa Yorinobu ở Kishū lật đổ chính  quyền, cướp thiên hạ từ tay Tướng quân Tokugawa Iemitsu ở Edo. Mori  Sōiken dùng tà thuật "chuyển sanh ma giới" của mình để hồi sinh cho các  kiếm khách đã chết và biến họ thành thuộc hạ để mình thao túng. Đây là  thuật Ninja (nhẫn pháp) khiến cho những kẻ lúc sắp chết thấy hối tiếc về  cuộc đời của mình và nảy sinh ý niệm muốn tái sinh ở dương thế,&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;trước lúc lâm chung thực hiện hành vi tính giao với nữ nhân mình yêu thương để có được một thân xác mới.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Các kiếm hào tái sinh nhờ thuật này được gọi là "chuyển sanh chúng", bao  gồm Amakusa Shirō Tokisada, Araki Mataemon, Tamiya Bōtarō, Hōzōin  Inshun, Yagyū Nyounsai, Tajima Munenori và Miyamoto Musashi. Những người  này là cao thủ kiếm thuật, thương pháp vang danh khắp thiên hạ. Nhưng  vẫn còn một người mà Sōiken mong muốn chiếm được thể xác là Yagyū Jūbei.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Biết được tà ý của Sōiken, Jūbei đã cùng với Sekiguchi Yatarō, một cao thủ Nhu thuật chống lại đám quỷ dữ hồi sinh từ địa ngục.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Trong phiên bản tiểu thuyết còn xuất hiện các kiếm hào Tamiya Hanbei,  Sekiguchi Jūshin, Kimura Sukekurō cùng các con gái, cháu gái bị chuyển  sanh chúng sát hại. Đặc trưng của nguyên bản tiểu thuyết là hầu như  Jūbei không tự mình đánh bại chuyển sanh chúng mà phải nhờ sự trợ lực  của những người này. Trong phiên bản điện ảnh đầu tiên, Amakusa Shirō  được miêu tả là tổng đại tướng của chuyển sanh chúng và chi tiết này ảnh  hưởng tới nội dung của phiên bản Manga sau này, nhưng trong bản tiểu  thuyết thì Amakusa chỉ là một đệ tử yêu của Sōiken và là con rối trong  tay hắn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Phiên bản điện ảnh năm 1981&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="font-family: arial;" id="cmimg"&gt;&lt;img src="http://www.filmfortress.com/images/samurai_r_review.jpg" alt="ComicVN : Vui lòng đợi chút , trang này đang tải - Nếu Tải Xong Sẽ Mất - Vẫn Thấy là ảnh load thiếu" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Phiên bản điện ảnh đầu tiên của tác phẩm này được đạo diễn Fukasaku  Kinji thực hiện với sự tham gia diễn xuất của các diễn viên gạo cội: nam  tài tử &lt;/span&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;&lt;a href="http://daiwakon.blogspot.com/2011/05/chiba-shin-ichi.html" target="_blank"&gt;Sonny Chiba&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (vai Yagyū Jūbei), &lt;/span&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;&lt;a href="http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/kozure-okami-cont.html" target="_blank"&gt;Wakayama Tomisaburō&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;  (vai Yagyū Tajima-nokami). Trong phiên bản điện ảnh này, vì lý do thời  lượng nên đạo diễn đã cắt bỏ hai nhân vật Mori Sōiken và Yui Shōsetsu  cùng một nhân vật trong số chuyển sanh chúng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Cuối bộ phim có cảnh Jūbei và Tajima-nokami giao đấu với nhau trong toà  thành cháy dữ dội. Cảnh này không dùng đến hình ảnh hợp thành từ máy  tính mà là cảnh quay lửa cháy thật và là cảnh được đánh giá cao của bộ  phim.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Bộ phim này được biết đến dưới cái tên Samurai Reincarnation ở bên ngoài Nhật Bản và có tác động đến đạo diễn Quentin Tarantino.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Phiên bản điện ảnh năm 1996&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Phiên bản này do đạo diễn Shirai Masaichi triển khai. Yui Shōsetsu là sứ giả từ ma giới xuất hiện trước Tokugawa&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Yorinobu, kẻ đang ôm ấp dã tâm chiếm đoạt quyền lực từ Tướng quân  Tokugawa Iemitsu. Shōsetsu dùng tà thuật để hồi sinh cho 7 kiếm khách đã  vong mạng từ trước hòng lợi dụng sức họ để chiếm đoạt thiên hạ. Yagyū  Jūbei biết được đã ra sức ngăn cản kế hoạch ma quỷ này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Phiên bản điện ảnh năm 2003&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Phiên bản này do đạo diễn Hirayama Hideyuki thực hiện với&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;một chút thay đổi trong nội dung so với nguyên tác. Trong số chuyển&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;sanh chúng còn có Tokugawa Ieyasu trong bản này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Kịch nói&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tác phẩm Makai Tenshō còn được dựng thành kịch nói hai lần vào&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;năm 1981 và năm 2006.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Anime và Manga&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Makai Tenshō được dựng thành OVA với hai phần: "địa ngục đệ nhất ca"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;và "địa ngục đệ nhị ca" và bị bỏ dở tại đó. Ban đầu người ta dự định xây&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;dựng tác phẩm cấu thành từ 4 phần nhưng vì ảnh hưởng của vụ sát hại&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;trẻ em hàng loạt tại Kōbei mà kế hoạch không thành.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Về Manga, tính đến năm 2011 thì có các phiên bản sau:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="font-family: arial;" id="cmimg"&gt;&lt;img src="http://pds.exblog.jp/pds/1/200811/08/13/a0093213_9141963.jpg" alt="ComicVN : Vui lòng đợi chút , trang này đang tải - Nếu Tải Xong Sẽ Mất - Vẫn Thấy là ảnh load thiếu" /&gt;&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Makai Tenshō của họa sĩ Ishikawa Ken: nội dung có thay đổi so với&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;nguyên tác tiểu thuyết. Ishikawa Ken đã sắp xếp lại một số nhân vật xuất&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;hiện trong tác phẩm, cắt bỏ một số và cho nhân vật Tokugawa Yorinobu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;chuyển sanh ma giới, chi tiết này vốn không có trong tiểu thuyết.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Makai Tenshō của họa sĩ Tomi Shinzō: đây là bản Manga trung thực&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;nhất với nguyên tác tiểu thuyết.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Makai Tenshō Ichimu no ato của nữ họa sĩ Toba Shōko: một tác phẩm dành&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;cho thiếu nữ (shōjo).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Makai Tenshō Seija no kōshin của nữ họa sĩ Kugo Naoko: một tác phẩm dành&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;cho thiếu nữ (shōjo).&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4578935424046034412?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4578935424046034412/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/au-thai-ma-gioi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4578935424046034412'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4578935424046034412'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/au-thai-ma-gioi.html' title='Đầu thai ma giới'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5535499234085694593</id><published>2011-10-01T09:11:00.000+09:00</published><updated>2011-10-01T09:13:06.917+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='NONE'/><title type='text'>Ve giấy</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" id="post_message_48540"&gt;        &lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Tĩnh Cương kim thiền&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;(Shizuoka Cicada)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gấp từ 01 tờ giấy vuông 25x25 (cm)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đản sanh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base1.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base1.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base2.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base2.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base3.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base3.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base4.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base4.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base5.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base5.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base6.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base6.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base7.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base7.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base8.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base8.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base9.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/base9.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành hình&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi1.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi1.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi2.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi2.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi3.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi3.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi4.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/semi4.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;   &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5535499234085694593?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5535499234085694593/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/ve-giay.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5535499234085694593'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5535499234085694593'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/10/ve-giay.html' title='Ve giấy'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7178555488646607785</id><published>2011-09-26T22:42:00.000+09:00</published><updated>2011-09-26T22:43:01.510+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'>Bushidō</title><content type='html'>&lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;武士たる者　戦いに望むは　ただ　己の敵を倒すことに専念せよ&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;             &lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;一切の喜怒哀楽　さらに　情けは無用なり&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;             &lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;邪魔だてする者　それが　たとえ神といえど　仏といえど&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;             &lt;p align="center"&gt;&lt;span style="font-size:7;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;これを斬るべし&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;             &lt;span style="font-size:180%;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;これすなわち　戦いの根本に隠れし&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size:6;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;極意&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000000;"&gt;&lt;strong&gt;なり&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7178555488646607785?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7178555488646607785/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/bushido.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7178555488646607785'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7178555488646607785'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/bushido.html' title='Bushidō'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-973760302018194213</id><published>2011-09-17T09:13:00.002+09:00</published><updated>2011-09-17T09:16:11.993+09:00</updated><title type='text'>Thủ ký: vô ảnh pháp</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手記「無影の法」&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;師いわく、「無影脚」こそ忍者の機動の基本、とか。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;いかにも、道無き道をゆく、忍びの”いろは”というものだ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;だが私は、いまだに上手く走れない。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;壁からずり落ちるわ、壁の岩に頭を打つわ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;ハチガネが無かったら今ごろは、頭蓋を割って死んでたろう。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;基本の無いこの私に、どれほどの任務がこなせようか。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;谷があれば足手まとい、壁があれば皆のお荷物。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;人生には壁があると言うが、私は壁が嫌いだ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;見たくもない。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Shi iwaku "muei kyaku" koso Ninja no kidō no kihon toka.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Ikanimo, michi naki michi wo yuku, Shinobi no "iroha"&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;to iumono da. Daga watashi wa, imadani umaku hashirenai.&lt;br /&gt;Kabe kara zuri ochiru wa, kabe no iwa ni atama wo utsu wa.&lt;br /&gt;Hachigane ga nakattara imagoro ha zugai wo watte shindetar&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;ō.&lt;br /&gt;Kihon no nai kono watashi ni, dorehodo no ninmu ga konasey&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;ō ka.&lt;br /&gt;Tani ga areba ashide matoi, kabe ga areba mina no o nimotsu.&lt;br /&gt;Jinsei niha kabe ga aru to iu ga, watashi ha kabe ga kiraida.&lt;br /&gt;Mitakumonai.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-973760302018194213?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/973760302018194213/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/thu-ky-vo-anh-phap.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/973760302018194213'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/973760302018194213'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/thu-ky-vo-anh-phap.html' title='Thủ ký: vô ảnh pháp'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1367337074444468072</id><published>2011-09-13T21:25:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:43:16.147+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Manga: Sakon</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Sakon - Sengoku Fūun-roku (SAKON（左近） -戦国風雲録-), tạm dịch là "Sakon -  Chiến quốc phong vân lục", là một tác phẩm Manga Nhật Bản dựa trên  nguyên tác của Ryū Keiichirō, họa sĩ Hara Tetsuo và kịch bản của Nihashi  Shingo. Tác phẩm được đăng liên tục trên tạp chí "Gekkan Shōnen Jump"  từ số tháng 5 năm 1997 đến số tháng 5 năm 2000.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tác phẩm được chuyển thể từ tiểu thuyết "Kagemusha Tokugawa Ieyasu" của  nhà văn Ryū Keiichirō và nội dung có phần thay đổi so với nguyên bản,  nhân vật chính cũng chuyển từ Tokugawa Ieyasu sang Shima Sakon theo ý đồ  của họa sĩ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" id="ncode_imageresizer_container_1" src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/sakon_01_001.jpg" alt="" border="0" width="800" height="716" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;u&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/u&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Năm 1598, Thái cáp Toyotomi Hideyoshi qua đời. Nội đại thần Tokugawa  Ieyasu (quân miền Đông) đứng lên tranh quyền thừa kế thiên hạ với Ishida  Mitsunari (quân miền Tây) và dẫn đến trận giao tranh lịch sử tại  Sekigahara. Gia thần của Ishida là Shima Sakon đã phái thích khách lẻn  vào doanh trại của quân miền Đông để ám sát Ieyasu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Nhưng không ngờ Ieyasu còn có một võ sĩ bù nhìn giống mình như đúc là  Serata Jirō Saburō Motonobu. Chính nhân vật này đã thế vai Ieyasu thật  đã bị ám sát, lật ngược tình thế trên chiến trường Sekigahara....&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Dịch thuật: Như Thị Duyên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Edit: Ted (Manhuavn)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Download &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.mediafire.com/?fjccdbeajivaee5" target="_blank"&gt;http://www.mediafire.com/?prlg71gj4vqaf&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1367337074444468072?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1367337074444468072/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/manga-sakon.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1367337074444468072'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1367337074444468072'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/manga-sakon.html' title='Manga: Sakon'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7464939372358115814</id><published>2011-09-02T16:56:00.001+09:00</published><updated>2011-09-02T16:56:50.855+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Video cổ văn</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Update loạt dạy cổ văn của cô giáo Chika trên Youtube.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;span style="font-family: arial;"&gt; Cô giáo xinh, dạy hay, dễ hiểu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;  &lt;span style="font-family: arial;"&gt;http://www.youtube.com/watch?v=0f18lJACWB8&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;  &lt;a style="font-family: arial;" href="http://cc6.upanh.com/27.495.34764405.eds0/1youtubeflv000000802.jpg" class="highslide"&gt;&lt;img src="http://cc6.upanh.com/27.495.34764405.eds0/1youtubeflv000000802.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7464939372358115814?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7464939372358115814/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/video-co-van.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7464939372358115814'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7464939372358115814'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/09/video-co-van.html' title='Video cổ văn'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4585753364557084129</id><published>2011-08-25T03:07:00.002+09:00</published><updated>2011-08-25T03:19:42.425+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'></title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-71a4f6bbd466b6be" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v1.nonxt6.googlevideo.com/videoplayback?id%3D71a4f6bbd466b6be%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D55A66E187A8A3F9B080935F253DE0AEF48B2F03D.53043FC7F7F5F12E9B72A41C883C12BC6C8A529%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D71a4f6bbd466b6be%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DQ8MrUJk4RPxvaWREZqNGKGNUvS4&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v1.nonxt6.googlevideo.com/videoplayback?id%3D71a4f6bbd466b6be%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D55A66E187A8A3F9B080935F253DE0AEF48B2F03D.53043FC7F7F5F12E9B72A41C883C12BC6C8A529%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D71a4f6bbd466b6be%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DQ8MrUJk4RPxvaWREZqNGKGNUvS4&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4585753364557084129?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4585753364557084129/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_25.html#comment-form' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4585753364557084129'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4585753364557084129'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_25.html' title=''/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5256938300072098398</id><published>2011-08-24T06:05:00.002+09:00</published><updated>2011-08-24T06:11:23.070+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>鷹撃乱刃舞</title><content type='html'>&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-1fbb98ffb6ce3a30" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v12.nonxt1.googlevideo.com/videoplayback?id%3D1fbb98ffb6ce3a30%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D12EFF2194463841472C54358ECDA3B900B14650B.4012A050F8BDC0739ED5D3F9C9AD4F9C7641B1A3%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D1fbb98ffb6ce3a30%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DWbsfU8w4Z9L0Rr528qxC5on2abQ&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v12.nonxt1.googlevideo.com/videoplayback?id%3D1fbb98ffb6ce3a30%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D12EFF2194463841472C54358ECDA3B900B14650B.4012A050F8BDC0739ED5D3F9C9AD4F9C7641B1A3%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D1fbb98ffb6ce3a30%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DWbsfU8w4Z9L0Rr528qxC5on2abQ&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;羅刹の剣&lt;br /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5256938300072098398?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5256938300072098398/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_24.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5256938300072098398'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5256938300072098398'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_24.html' title='鷹撃乱刃舞'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6216253203945388043</id><published>2011-08-21T17:18:00.001+09:00</published><updated>2011-08-21T17:19:41.436+09:00</updated><title type='text'>Chim phóng sanh</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Nguồn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vn.news.yahoo.com/r%E1%BA%B1m-th%C3%A1ng-7-v%C3%A0-t%E1%BB%99i-%C3%A1c-chim-ph%C3%B3ng-sinh.html?bcmt=1738345"&gt;http://vn.news.yahoo.com/r%E1%BA%B1m-th%C3%A1ng-7-v%C3%A0-t%E1%BB%99i-%C3%A1c-chim-ph%C3%B3ng-sinh.html?bcmt=1738345&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tôi không phải là người mộ đạo, tôi chỉ sống theo đạo tâm và hướng  thiện. Nhưng mỗi năm, tết và rằm tháng 7 tôi đều đi chùa, và mỗi năm,  tôi đều đứng trước những lồng chim và cầu nguyện và cảm nhận nỗi đau...  nỗi đau của chim sa lưới, chim trong lồng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Không biết có phải  kiếp trước tôi là chim, hay vì tôi quá mẫn cảm mà tôi luôn có thể cảm  nhận và nghe nỗi đau của từng con chim trong lồng ấy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hôm nay  cũng thế, tôi lại đứng trước lũ chim, chúng khóc, chúng van xin tôi,  đừng thả chúng ra. Chúng đau, chúng đè lên nhau, đứa gãy cánh, đứa què  giò, có một con ứa nước mắt, nói với tôi rằng: "Xin bạn đừng nhìn tôi,  xin bạn đừng mua tôi, đừng thả tôi, cứ để tôi chết trong lồng này, hôm  nay tôi đã được thả ra và bắt vào 4 lần rồi, tôi đau, mệt, tôi không thể  bay, xin đừng cho tôi hy vọng".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Một con chim khác lại nói: "Nếu  không ai mua, họ sẽ không làm vậy, họ đã cho chúng tôi uống nước thuốc,  chúng tôi không thể bay xa, cho dù bạn thả ra, chúng tôi cũng sẽ bị bắt  về và lại bán, và lại bị bắt. Nếu bạn không mua, họ sẽ chẳng bao giờ cần  bắt chúng tôi, sẽ không bao giờ cần cho tôi uống thứ nước thuốc khủng  khiếp đó, làm ơn, làm ơn để chúng tôi hy sinh và những con chim khác sẽ  không bao giờ chịu chung số phận. Làm ơn!"...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Rồi một người phụ  nữ đến mua, người đàn bà bán chim nhẫn tâm quơ tay vào cái lồng đặc  nghẹt, hốt từng nắm, lũ chim bị bóp chặt, mỏ con này chọc vào mắt con  kia, trong cơn quơ quào móng con này cấu vào đầu con kia, chúng la hét,  giẫy dụa, rỉ máu, chúng đau đớn, chúng la “Đừng đừng … hãy để chúng tôi  yên, hãy để chúng tôi yên”.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tôi đứng im, bất lực, tôi là kẻ hèn  nhát, tôi khinh khi bản thân mình, tôi đã không dám đứng ra ngăn cản  người phụ nữ đó, như ngăn cản số người còn lại trên cái thế giới này xin  đừng thả chim phóng sinh.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Ngày xưa, đức Tam Tạng thấy bọn trẻ  câu cá đã mua cá và thả cá về sông để làm phúc. Người ta bẫy chim để ăn  vì mưu cầu cuộc sống, rồi người làm phúc vô tình nhìn thấy đã mua chim  ấy để thả. Đó gọi là làm phúc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Ngày nay, những người bẫy chim  không còn phải để ăn mà để bạn mua và thả. Vậy khi bạn mua có nghĩa là  bạn tạo ra cầu thì sẽ có cung, do đó, việc bạn đang làm là ác, vì bạn  đang xúi giục họ bắt, hành hạ những con chim ấy và bạn sẽ cho họ tiền,  vậy việc làm đó có thiện, có phúc hay không?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Có thể bạn nói rằng,  ngày nay họ cũng vì kế sinh nhai nên làm vậy, cũng đâu khác gì ngày  xưa. Thật ra nó khác, rất khác, vì ngày xưa những con chim bị bắt để ăn  sẽ to khỏe và mập mạp, và khi bạn thả, là nó sẽ được tung cánh bay xa,  được về với gia đình của nó. Còn ngày nay, nếu bạn để ý kỹ, những con  chim phóng sinh là những con se sẻ nhỏ, hoặc loài chim én, hoặc chim  yến, những con chim bé nhỏ, vô tội chỉ bị bắt vì một lý do duy nhất, bắt  để bán cho những người phóng sinh.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Người ta còn cho thuốc vào để  chim yếu, chỉ bay được một ít trong khuôn viên chùa, và 5 phút nữa  thôi, sẽ lại bị bắt về, để bán cho một người khác.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tôi đứng đó,  ứa nước mắt, và tự sỉ vả mình hèn hạ vì đã không dám lên tiếng. Lũ chim  được người đàn bà giơ cao đưa ra trước đức phật, cầu nguyện và mở nắp,  lũ chim đứng yên, không hề muốn bay ra. Người đàn bà phóng sinh thò bàn  tay mập mạp, bắt từng con thả ra, chúng bay uể oải và đậu trên một nhánh  cây gần đó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tôi biết lũ chim kia quá bé để ăn thịt, thật sự nếu  không ai mua, thì vài ngày sau họ cũng sẽ phải thả nó về trời, đằng này,  cứ hết người này, đến người khác tới mua, nên họ cứ bắt đi bắt lại,  hành hạ chúng đến khi chúng mệt lử và chết, thì khi đó họ sẽ mua vài con  thế vào. Một lồng chim trăm con có thể bán đi bán lại hàng chục lần.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Truyền  thống chim phóng sinh giờ đây là một việc làm độc ác cần xóa bỏ. Nếu  những người kia cần tiền, họ có thể bán nhang, bán vé số, có thể bán  kinh, bán hoa. Xin đừng hành hạ những sinh vật bé nhỏ và vô tội. Những  người phóng sinh xin đừng đưa tiền, đừng tiếp tay cho hành động độc ác  nọ, xin thương lấy lũ chim, đó cũng là một sinh mạng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Làm ơn, xin đừng phóng sinh!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong style="font-family: arial;"&gt;Chim Én&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6216253203945388043?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6216253203945388043/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/chim-phong-sanh.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6216253203945388043'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6216253203945388043'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/chim-phong-sanh.html' title='Chim phóng sanh'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3625680589077026104</id><published>2011-08-21T02:42:00.002+09:00</published><updated>2011-08-21T02:47:00.735+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>羅刹の剣鷲翼円舞</title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-8632d8ea88886e8" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v2.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3D08632d8ea88886e8%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D319117F31A0B4B1AE59974D484CD9BFF6B66A486.232E4371E52734A157FED87676CD71D477FDAE9C%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D8632d8ea88886e8%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DSR9k7wksHY3jOWrhHyFAEOw-GUc&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v2.nonxt4.googlevideo.com/videoplayback?id%3D08632d8ea88886e8%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D319117F31A0B4B1AE59974D484CD9BFF6B66A486.232E4371E52734A157FED87676CD71D477FDAE9C%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3D8632d8ea88886e8%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DSR9k7wksHY3jOWrhHyFAEOw-GUc&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3625680589077026104?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3625680589077026104/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_21.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3625680589077026104'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3625680589077026104'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_21.html' title='羅刹の剣鷲翼円舞'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4641528474122235352</id><published>2011-08-20T01:03:00.002+09:00</published><updated>2011-08-20T01:11:32.691+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>羅刹の剣　蘇不死鳥</title><content type='html'>&lt;br /&gt;&lt;object width="320" height="266" class="BLOG_video_class" id="BLOG_video-ae5a074bcd6dbbfa" classid="clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"&gt;&lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/get_player"&gt;&lt;param name="bgcolor" value="#FFFFFF"&gt;&lt;param name="allowfullscreen" value="true"&gt;&lt;param name="flashvars" value="flvurl=http://v7.nonxt1.googlevideo.com/videoplayback?id%3Dae5a074bcd6dbbfa%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D351E41B91774E743A30DE8A0A58AA4CBF7C2164F.26C4BA3EDD43B690F55D6EBD987F5DDF3AE17863%26key%3Dck1&amp;amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3Dae5a074bcd6dbbfa%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DyWAMTCfsKfFvQuCCTdjpsiRZh7g&amp;amp;autoplay=0&amp;amp;ps=blogger"&gt;&lt;embed src="http://www.youtube.com/get_player" type="application/x-shockwave-flash"width="320" height="266" bgcolor="#FFFFFF"flashvars="flvurl=http://v7.nonxt1.googlevideo.com/videoplayback?id%3Dae5a074bcd6dbbfa%26itag%3D5%26app%3Dblogger%26ip%3D0.0.0.0%26ipbits%3D0%26expire%3D1331303722%26sparams%3Did,itag,ip,ipbits,expire%26signature%3D351E41B91774E743A30DE8A0A58AA4CBF7C2164F.26C4BA3EDD43B690F55D6EBD987F5DDF3AE17863%26key%3Dck1&amp;iurl=http://video.google.com/ThumbnailServer2?app%3Dblogger%26contentid%3Dae5a074bcd6dbbfa%26offsetms%3D5000%26itag%3Dw160%26sigh%3DyWAMTCfsKfFvQuCCTdjpsiRZh7g&amp;autoplay=0&amp;ps=blogger"allowFullScreen="true" /&gt;&lt;/object&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4641528474122235352?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4641528474122235352/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_20.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4641528474122235352'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4641528474122235352'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post_20.html' title='羅刹の剣　蘇不死鳥'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6483712408397422424</id><published>2011-08-15T01:24:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:43:33.689+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Conde Koma Vol II (tiếng Việt)</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/-VO_YiE7RJEk/Tkf3BoEDI1I/AAAAAAAAAD8/Bc_uqNpD0Ro/s1600/cover%2B1.jpg"&gt;&lt;img style="float: right; margin: 0pt 0pt 10px 10px; cursor: pointer; width: 320px; height: 211px;" src="http://3.bp.blogspot.com/-VO_YiE7RJEk/Tkf3BoEDI1I/AAAAAAAAAD8/Bc_uqNpD0Ro/s320/cover%2B1.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5640748665611166546" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="text-decoration: underline;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Download:&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.mediafire.com/?bk5ut2ru0idrbnk" target="_blank"&gt;http://www.mediafire.com/?bk5ut2ru0idrbnk&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6483712408397422424?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6483712408397422424/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/conde-koma-vol-ii-tieng-viet.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6483712408397422424'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6483712408397422424'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/conde-koma-vol-ii-tieng-viet.html' title='Conde Koma Vol II (tiếng Việt)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/-VO_YiE7RJEk/Tkf3BoEDI1I/AAAAAAAAAD8/Bc_uqNpD0Ro/s72-c/cover%2B1.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1592397933989342491</id><published>2011-08-12T03:01:00.004+09:00</published><updated>2012-01-11T22:43:47.896+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Conde Koma Vol I (tiếng Việt)</title><content type='html'>&lt;img src="file:///C:/DOCUME%7E1/ADMINI%7E1/LOCALS%7E1/Temp/moz-screenshot.png" alt="" /&gt;&lt;img src="file:///C:/DOCUME%7E1/ADMINI%7E1/LOCALS%7E1/Temp/moz-screenshot-1.png" alt="" /&gt;&lt;a id="zoomedLink" title="Click to zoom out." class="menuTrigger"&gt;         &lt;br /&gt;&lt;/a&gt;&lt;a id="zoomedLink" title="Click to zoom out." class="menuTrigger"&gt;                  &lt;/a&gt;&lt;p&gt;&lt;img alt="1 Conde Koma   Update Chap 18" src="http://cc9.upanh.com/25.564.32729968.Ldi0/1.jpg" title="Conde Koma   Update Chap 18" class="aligncenter" width="500" height="511" /&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;DOWNLOAD:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.mediafire.com/?8bwsp4wtcn1kzul" target="_blank"&gt;http://www.mediafire.com/?8bwsp4wtcn1kzul&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1592397933989342491?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1592397933989342491/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1592397933989342491'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1592397933989342491'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/08/blog-post.html' title='Conde Koma Vol I (tiếng Việt)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5522014449128296484</id><published>2011-07-25T21:02:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:44:35.538+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Conde Koma</title><content type='html'>&lt;p face="arial"&gt;&lt;strong&gt;Conde Koma&lt;/strong&gt; (コンデ・コマ) là tên tục ở hải ngoại và Ba Tây  của Nhu đạo gia (Judōka) Maeda Mituyo, người đã mang Nhu đạo Nhật Bản  ra hải ngoại trong thời Minh Trị. Conde có nghĩa là bá tước, Conde Koma  là bá tước Koma.&lt;br /&gt;Có thuyết cho rằng cái tên Conde Koma này là tên dùng trên sàn đấu võ do  một người Tây Ban Nha quen biết với Maeda đặt cho khi ông còn lang  thang khắp nơi để tỉ thí. Và cũng có thuyết nói rằng từ “Koma” bắt nguồn  từ động từ “komaru” trong tiếng Nhật, nghĩa là gặp khó khăn.&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;Về nhân vật lịch sử này, có một bộ Manga hấp dẫn của Nabeta Yosirō do  họa sĩ Fujiwara Yosihide vẽ, được đăng liên tục trên tạp chí Gekkan  Young Sunday của nhà xuất bản Shōgakukan. Đúng như tên gọi của nó, Manga  này kể về cuộc đời của Maeda Mituyo và bối cảnh lịch sử đương thời. Tuy  nhiên tác phẩm này đã được chuyển thể sang Manga nên có nhiều điểm thay  đổi và có thêm phần hư cấu vào đó.&lt;br /&gt;Chẳng hạn, nhân vật Maeda Mituyo trong Manga là người hiếu chiến, quá  khích nhưng nhân vật thật tế lại không phải như vậy. Tankō của Manga này  gồm 17 cuốn.&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:medium;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;Thời đại Minh Trị đã mang đến cho nước Nhật một bộ mặt mới. Cùng với  những cái tân tiến của văn minh phương Tây thì bên cạnh đó, những giá  trị truyền thống bắt đầu xuống dốc. Trong số đó là trào lưu võ nghệ và  tinh thần võ sĩ đạo đã thống trị xứ này mấy ngàn năm trước. Thời đại  Minh Trị đã mang một dấu chấm hết to đùng đến với võ nghệ. Và Nhu thuật,  môn võ truyền thống của đất nước này cũng không tránh khỏi tình trạng  trì trệ chung.&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;Giữa bối cảnh đó, một nhân vật kiệt xuất của phải Nhu thuật Tenshin  Shinyō-ryū xuất hiện, mang tham vọng chấn hưng Nhu thuật. Nhưng bản thân  ông cũng biết rằng chấn hưng Nhu thuật vốn mang nhiều đòn thế sát thủ,  hung hiểm này là điều không hợp lý và là không thể trong thời đại mới  này. Vì thế, thay vì chấn hưng môn võ truyền thống này, ông đã thể thao  hóa nó, mang đến cho nó một bộ mặt mới. Ông chính là Kanō Jigorō, cha đẻ  của Nhu đạo hiện đại.&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;Kanō Jigorō đã thành công trong việc phổ cập hóa Nhu đạo khắp nước  Nhật và mục tiêu tiếp đến là phổ biến nó rộng rãi ở hải ngoại. Sự thành  công của Nhu đạo cũng cổ súy cho phong trào chấn hưng võ nghệ tại Nhật  Bản, trong đó có Karate. Năm Minh Trị thứ 41, võ đường Nhu đạo Kōdōkan  (Giảng Đạo quán) đã cử bốn nhân vật kiệt xuất sang Mỹ làm công tác phổ  biến Nhu đạo ra Thế giới.&lt;br /&gt;Trong bốn nhân vật này, chỉ có Maeda Mitsuyo là đi trật ra khỏi đường  lối “đạo” do Kōdōkan vạch ra sẵn. Thay vì truyền bá Nhu đạo theo mong  muốn của Kanō thì Maeda lại lang thang khắp nơi trong thế giới phương  Tây để tìm kiếm đối thủ xứng tầm cho mình. Sau biết bao trận thư hùng  nảy lửa với các võ sĩ đô vật, đấm bốc thì cuối cùng Maeda đã dừng chân  tại Brazil và tìm được truyền nhân của mình.&lt;br /&gt;Đó là dòng họ Gracie lừng danh sau này.&lt;br /&gt;Để rồi trong các giải đấu võ tự do đầu thế kỷ 20, cái tên Nhu thuật  Brazil (BBJ) hay Nhu thuật Gracie làm khuynh đảo võ lâm với thành tích  liên thắng bất bại của dòng họ này.&lt;/p&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;Nhưng một sự thật ít ai biết rằng mọi huyền thoại về dòng họ Gracie  đều bắt đầu từ Maeda Mitsuyo, người sau này được mệnh danh là Conde Koma  và mọi câu chuyện bắt đầu từ đây…&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5522014449128296484?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5522014449128296484/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/conde-koma.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5522014449128296484'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5522014449128296484'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/conde-koma.html' title='Conde Koma'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5064833728533800116</id><published>2011-07-20T22:07:00.001+09:00</published><updated>2011-07-20T22:10:53.598+09:00</updated><title type='text'>Vô đạo pháp</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;無道の法&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;すなわち、無影脚の応用なり。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;向かい会う壁、その狭間にて使え。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;壁走る途上、Xを押すが良し。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;対面の壁に跳び移りたる。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;そのままLにて壁走れ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;ふたたび反対の壁へ跳び、壁走れ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;右の壁、左の壁、交互に跳び移り&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;無影脚の繰り返し。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;果てることなく渡り行く。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;道無き虚空に、道を渡る。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;これ、「無道脚」という。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Mudō no hō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Sunawati, mueikyaku no ōyō nari.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Mukai au kabe, sono hazama nite tukae.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kabe hasiru tojō, X wo osu ga yosi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Taimen no kabe ni tobi uturitaru.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Sono mama L nite kabe hasire.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Futatabi hantai no kabe e tobi, kabe hasire.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Migi no kabe, hidari no kabe, kōgo ni tobi uturi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Mueikyaku no kurikaesi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hateru koto naku watari yuku.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Miti naki kokū ni, miti wo wataru.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kore, "Mudōkyaku" nari.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5064833728533800116?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5064833728533800116/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-ao-phap.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5064833728533800116'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5064833728533800116'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-ao-phap.html' title='Vô đạo pháp'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4281915128915027303</id><published>2011-07-17T11:53:00.002+09:00</published><updated>2011-07-17T11:58:26.672+09:00</updated><title type='text'>Vô song pháp</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;無双の法&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;すなわち、無影脚の応用なり。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;壁から壁へ跳び移り、走り継ぐ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;壁走れば、やがて新たな壁来る。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;行く手に壁の立ちふさがるや。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;かくなる上は、Xを押すが良し。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;行く手の壁に跳びつなぐ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Lを倒し続け、壁走れ。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;壁また壁へ登り行くなら&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;高みへ至る「無双脚」なり。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;並ぶ者無き超絶の脚法にて&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;未踏の地をこそ踏まん。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Musō no hō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Sunawati, Mueikyaku no ōyō nari.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kabe kara kabe e tobi uturi, hasiri tugu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kabe hasireba, yagate aratana kabe kuru.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Yukute ni kabe no tati fusagaru ya.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kakunaru ue ha X wo osu ga yosi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Yukute no kabe ni tobi tunagu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;L wo taosi tuduke, kabe hasire.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Kabe mata kabe e nobori yuku nara&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Takami e itaru "Musōkuyku" nari.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Narabu mono naki chōzetu no kyakuhō nite&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Mitō no ti wo koso fuman.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4281915128915027303?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4281915128915027303/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-song-phap.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4281915128915027303'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4281915128915027303'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-song-phap.html' title='Vô song pháp'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-2412804650392257542</id><published>2011-07-14T02:54:00.002+09:00</published><updated>2011-07-14T03:02:41.555+09:00</updated><title type='text'>Vô ảnh pháp</title><content type='html'>無影の法&lt;br /&gt;すなわち壁走り。&lt;br /&gt;壁へ跳び、Lを倒し続けるべし。&lt;br /&gt;浅き角度にて壁へ向かえば&lt;br /&gt;横、水平に壁走る。&lt;br /&gt;壁に真っ向、向かうなら&lt;br /&gt;縦、垂直に駆け上がり。&lt;br /&gt;Xを押さばいつでも&lt;br /&gt;軽やかに壁より跳び離れん。&lt;br /&gt;壁を走る者、大地に影を落とさず&lt;br /&gt;谷を越え、山を踏破する。&lt;br /&gt;これ、「無影却」なり。&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muei no hō&lt;br /&gt;Sunawachi kabe hashiri&lt;br /&gt;Kabe he tobu ERU wo taoshi tsudukeru beshi&lt;br /&gt;Asaki kakudo nite kabe e mukaeba&lt;br /&gt;Yoko, suihei ni kabe hashiru&lt;br /&gt;Kabe ni matmukō, mukau nara&lt;br /&gt;Tate, suichoku ni kake agari&lt;br /&gt;EKUSSU wo osaba itsudemo&lt;br /&gt;Karuyakani kabe yori tobi hanaren&lt;br /&gt;Kabe wo hashiru mono, daichi ni kage wo otosazu&lt;br /&gt;Tani wo koe, yama wo tōha suru&lt;br /&gt;Kore, "Mueikyaku" nari&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-2412804650392257542?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/2412804650392257542/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-anh-phap.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2412804650392257542'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2412804650392257542'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/vo-anh-phap.html' title='Vô ảnh pháp'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7925929366692915454</id><published>2011-07-11T01:04:00.000+09:00</published><updated>2011-07-11T01:05:07.330+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn VI</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Trong các bài trước, chúng ta đã biết về các loại động từ và cách hoạt dụng của chúng. Phần này tiếp tục nói về tính từ cũng như cách hoạt dụng của nó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tính từ là một loại phẩm từ diễn tả tính chất của sự vật, sự việc và trong tiếng Nhật có hai loại tính từ. Đầu tiên là "hình dung từ" (形容詞- keiyōshi) và "hình dung động từ" (形容動詞- keiyōdōshi). Theo cách gọi của nhiều sách ngữ pháp dành cho người ngoại quốc thì hình dung từ là tính từ đuôi i và hình dung từ là tính từ đuôi na. Hai loại tính từ này hẳn là bạn đã nắm rõ khi học khẩu ngữ (tiếng Nhật hiện đại).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Trong văn ngữ (cổ văn) thì tính từ cũng biến đổi, hoạt dụng như động từ nhưng chủng loại hoạt dụng của nó không nhiều như động từ và có quy tắc nên rất dễ nhớ. Muốn biết cụ thể thế nào, cứ xem phần sau sẽ rõ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight: bold; color: rgb(51, 51, 255);font-size:180%;" &gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hình dung từ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Là một loại phẩm từ diễn đạt tính chất của sự vật, sự việc. Trong câu văn, một mình nó cũng đủ hình thành nên phần vị ngữ. Hình dung từ cũng được cấu thành từ hai thành phần là ngữ căn và ngữ vĩ như động từ. Xét theo ngữ vĩ thì người ta lại chia tiếp hình dung từ thành hai loại là đuôi i và đuôi shii. Chẳng hạn như 高い và　美しい. Takai là hình dung từ đuôi i và utsukushii là hình dung từ đuôi shii.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Trong khẩu ngữ, hình thái kết thúc của hình dung từ là để nguyên đuôi i và shii của chúng. Nhưng trong văn ngữ, hình thái kết thúc của chúng là đuôi shi. Chẳng hạn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;高い bỏ đuôi i, thay bằng shi thành 高し (takashi).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Rất đơn giản phải không? Chỉ việc bỏ đuôi i và thay bằng shi!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tuy nhiên, trong trường hợp của　美しい, nếu áp dụng theo cách này thì sẽ là 美しし (utsukushishi), nghe rất chói tai. Cách biến đổi đúng của nó là bỏ bớt đuôi i trong shii để chỉ còn lại shi thôi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;美しい bỏ い thành 美し.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hãy xem câu ví dụ sau:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手負いの者、時として常より危うし。(Teoi no mono, toki toshite tsune yori ayaushi)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Câu này nếu viết lại theo khẩu ngữ thì sẽ là&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手負いの者、時によって常時より危うい。&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;(tạm dịch là: kẻ bị thương có khi còn nguy hiểm hơn cả lúc bình thường)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Qua câu ví dụ trên, hẳn là bạn đã rõ về hình thái kết thúc của hình dung từ trong văn ngữ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Cũng như động từ, hình dung từ trong văn ngữ cũng có sáu hình thái hoạt dụng là Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshikei, Rentaikei, Izenkei và Meireikei. Tuy nhiên, đối với một số trong sáu hình thái hoạt dụng vừa kể thì mỗi hình dung từ lại có hai kiểu hoạt dụng khác nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Thứ nhất, vì có hai loại hình dung từ như kể trên nên người ta gọi các hình thức hoạt dụng của chúng lần lượt là kiểu hoạt dụng ku (ク活用- Ku katsuyō) đối với tính từ đuôi i và kiểu hoạt dụng shiku (シク活用- Shiku katsuyō) đối với tính từ đuôi shii.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Tiếp theo, hình dung từ đuôi i và đuôi shii đều có thêm kiểu hoạt dụng thứ hai là kiểu hoạt dụng kari (カリ活用- Kari katsuyō). Đây là hình thức hoạt dụng bổ trợ cho việc thiếu khả năng kết hợp với trợ động từ của hình dung từ. Khi hình dung từ hoạt dụng theo kiểu Kari này thì ý nghĩa của nó được quy định bởi trợ động từ đi liền sau nó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Như vậy, các cách hoạt dụng của hai loại hình dung từ qua sáu hình thái cụ thể như sau:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Hình dung từ đuôi i (lấy ví dụ là 高い), kiểu hoạt dụng ku (Ku katsuyō) có Mizenkei và Ren-yōkei là 高く, Shūshikei là 高し, Rentaikei là 高き, Izenkei là 高けれ và đặc biệt không có hình thái Meireikei.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Hình dung từ đuôi i (lấy ví dụ là 高い), kiểu hoạt dụng Kari (Kari katsuyō) có Mizenkei là 高から, Ren-yōkei là 高かり, Shūshikei là 高し, Rentaikei là 高かる, không có hình thái Izenkei, có hình thái Meireikei là 高かれ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Hình dung từ đuôi shii (lấy ví dụ là 美しい), kiểu hoạt dụng Shiku (Shiku katsuyō) có Mizenkei và Ren-yōkei là 美しく, Shūshikei là 美し, Rentaikei là 美しき, Izenkei là 美しけれ và không có hình thái Meireikei.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;+ Hình dung từ đuôi shii (lấy ví dụ là 美しい), kiểu hoạt dụng Kari (Kari katsuyō) có Mizenkei là 美しから, Ren-yōkei là 美しかり, không có hình thái Shūshikei, Rentaikei là 美しかる, không có hình thái Izenkei và cuối cùng, hình thái Meireikei là 美しかれ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-weight: bold;"&gt;Một số động từ hoạt dụng kiểu Ku&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;青し 赤し 明(あか)し 明るし あぢきなし 暑し あやなし 著(いちじる)し※2 憂し うしろめたし 薄し うたてし うまし※3 多し おぼつかなし 面白し 難し 清し 寒し さやけし 繁し 著(しる)し 少なし 高し 弛(たゆ)し 露けし 辛し つれなし 遠し 疾(と)し 無し 長し 妬(ねた)し のどけし はかなし 遥けし 低し 深し 短し めでたし 易し 良し 弱し&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-weight: bold;"&gt;Một số động từ hoạt dụng kiểu Shiku&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;悪(あ)し 新し 怪し 愛(いと)し 忙し 美(うま)し※3 恨めし 嬉し 恐ろし 悲し かまびすし　苦し 恋し 寂し 親(した)し 涼し 正し 楽し 乏し 長々し なつかし 妬まし 正(まさ)し 未(まだ)し むつかし 睦まし むなし 珍し 侘し ゆかし 惜し&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hãy xem ví dụ sau:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;業深き邪悪の者共 (Gyō fukaki jaaku no monodomo): những kẻ tà ác nghiệp nặng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Hình dung từ ở đây là Rentaikei nên là fukaki. Câu này nếu viết theo khẩu ngữ sẽ là&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;業深い邪悪の者たち&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Trong phần tiếp theo sẽ giới thiệu về hình dung động từ và cách hoạt dụng của nó.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7925929366692915454?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7925929366692915454/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/co-van-vi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7925929366692915454'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7925929366692915454'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/co-van-vi.html' title='Cổ văn VI'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-8382614038966554871</id><published>2011-07-10T13:21:00.002+09:00</published><updated>2011-07-10T13:26:07.800+09:00</updated><title type='text'>Tận diệt pháp</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;滅却の法            Metsukyaku no hō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手、足、いずれか斬り取らば            Te, asi, izure kiri toraba&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;今ぞまさしく、とどめの時。                Imazo masasiku, todome no toki.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;その身の間近に近寄りて                 Sono mi no madika ni tikayorite&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;確かなる死をこそもたらさん。          Tasikanaru si wo koso motarasan&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;業深き邪悪の者共                            Gyō fukaki jaaku no mono domo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手足失せるも戦い止めず。              Shusoku useru mo tatakai tomezu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;手負いの者、時として常より危うし。 Teoi no mono, toki tosite tune yori ayausi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;されば忍者よ                                     Sareba Ninja yo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;者共に安寧を与えるべし。               Mono domo ni annei wo ataeru besi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;これ、滅却のことわりと知れ。          Kore, metukyaku no kotowari to sire.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;すなわち「滅却の法」を修めん。      Sunawati "metukyaku no hō" wo osamen.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-8382614038966554871?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/8382614038966554871/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/tan-diet-phap.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8382614038966554871'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8382614038966554871'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/07/tan-diet-phap.html' title='Tận diệt pháp'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4361753272072454771</id><published>2011-06-25T09:50:00.001+09:00</published><updated>2011-07-10T13:21:53.785+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Zatsugaku'/><title type='text'>Trivia III</title><content type='html'>&lt;span&gt;&lt;span style=";font-family:Arial;font-size:85%;"  &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:seagreen;"&gt;Tên họ người Nhật&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tên họ người Nhật là phần khó nhất đối với những người học tiếng Nhật,  không, ngay cả bản thân người Nhật cũng thấy nó rất khó. Có những cái  tên của đồng bào họ nhưng nhìn thấy thì không biết đọc thế nào, nghe qua  thì không biết viết lại như thế nào. Nhật cũng là quốc gia có nhiều họ  nhất Thế giới. Vì sao lại có hiện tượng này?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suốt trong một thời gian dài của thời phong kiến, thường dân ở Nhật  không được phép mang họ mà chỉ có một cái tên gọi để phân biệt người này  người kia. Lúc đó chỉ có những người quyền quý, ít nhiều dính líu đến  chính quyền mới được phép mang họ. Đến thời Meiji, Thiên Hoàng đã làm  một cuộc cải cách toàn diện, đủ mọi mặt của đất nước, xóa bỏ những hũ  tục của thời phong kiến và học tập theo lối suy nghĩ, cách làm hiện đại  của người Tây phương. Trong số những cải cách đó có việc "tứ dân bình  đẳng", nghĩa là xóa bỏ giai cấp và mọi đặc quyền của giai cấp, mọi người  ai ai cũng đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Điều này đồng nghĩa  với việc sĩ nông công thương, trăm họ bách tính ai ai cũng đều có quyền  mang họ tên.&lt;br /&gt;Đa phần tầng lớp hèn kém khi đó đều lúng túng trong việc chọn họ cho  mình, bởi lẽ từ trước đến nay họ chưa từng nghĩ đến việc này. Thế là  nhiều người đã "chọn đại" cái họ cho mình bằng cách lấy tên đất, tên  làng mình đang sống. Nhiều người khác thì lấy họ theo đặc trưng của nơi  mình sống, chẳng hạn người nào sống dưới chân núi thì lấy họ Yamasita  (山下), người nào ở gần sông thì lấy họ Kawamoto (川本),..... Điều này lý  giải tại sao ở Nhật lại có nhiều họ đến vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế còn tại sao họ tên người Nhật lại khó đọc?&lt;br /&gt;Điều này liên quan đến quan niệm dân gian. Thời xưa, người ta kiêng kỵ  bị gọi thẳng tên, coi đó là điều không may và dẫn đến tai họa. Quan niệm  này ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa và ở Việt Nam cũng thấy điều tương  tự (tên húy). Vì không muốn bị người khác gọi thẳng tên nên khi sinh  con, cha mẹ thường đặt tên cho con bằng những chữ (Hán) rất khó đọc,  hoặc dùng tính chất hội ý của chữ Hán để đặt tên. Chẳng hạn như cái  tên　小鳥遊, chắc chắn nhiều người không biết đọc thế nào. Về mặt ngữ nghĩa  thì có thể thấy tên này có "nghĩa" đen là "chim nhỏ chơi". Khi các loài  chim nhỏ an nhàn chơi bời thì cũng có thể hiểu là do không có thiên địch  (diều hâu) nên chim nhỏ mới an tâm nhảy nhót. Vì thế tên 小鳥遊 đọc là Takanashi (鷹無). Takanashi, hiểu theo nghĩa đen là "không có diều hâu".&lt;br /&gt;Một ví dụ khác, ở Shizuoka có họ 月見里. Nếu đọc theo từng chữ thì là  Tsukimizato, nghĩa là "làng ngắm trăng". Kỳ thực họ này đọc là Yamanashi  (山無), nghĩa là "không có núi". Chính vì không có núi cản nên mới thấy  được trăng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩa hội ý trong họ tên người Nhật là như vậy. Một lý do khác nữa dẫn  đến việc tên họ Nhật khó đọc là do Ateji, cách đọc "bất quy tắc" không  liên quan gì đến cách đọc vốn có của chữ đó. Về Ateji thì lần sau sẽ  viết rõ hơn.                     &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4361753272072454771?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4361753272072454771/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-iii.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4361753272072454771'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4361753272072454771'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-iii.html' title='Trivia III'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6737811965299303414</id><published>2011-06-20T01:21:00.001+09:00</published><updated>2011-06-20T01:21:49.974+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn V</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#0000ff;"&gt;Chín loại động từ hoạt dụng trong văn ngữ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trong phần trước đã giới thiệu qua năm loại động từ hoạt dụng trong khẩu  ngữ (tiếng Nhật hiện đại), phần này tiếp tục lướt qua chín loại động từ  hoạt dụng trong văn ngữ (cổ văn). Cách hoạt dụng của chín loại động từ  này là một trong những phần phức tạp nhất của cổ văn, trong số đó có rất  nhiều động từ vừa thuộc loại này, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:#ff0000;"&gt;vừa thuộc loại kia&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; và chúng thực sự thuộc loại này cũng còn là vấn đề tranh cãi cho đến ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 1. Động từ hoạt dụng 4 đoạn (四段活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;yondan katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;): đây là loại  động từ có số lượng nhiều nhất trong cổ ngữ, phần ngữ vĩ của động từ lần  lượt biến đổi theo 4 âm a, i, u và e. Vì thế chúng được gọi là động từ 4  đoạn. Chẳng hạn, động từ 書く (kaku, viết) có hình thức Mizenkei là ka&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ka&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (書か), Ren-yōkei là ka&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ki&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;, hình thức Shūshikei và Rentaikei đều là ka&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ku&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (書く), hình thức Izenkei cũng như Meireikei đều là ka&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ke&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (書け). Dưới đây là một số động từ 4 đoạn khác:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 498px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;吹く 開(あ)く(自) 飽く 欺く 生く(自)※1&lt;br /&gt;行く 色づく 置く 驚く 書く 潜(かづ)く(自)&lt;br /&gt;乾く 聞く 砕く(他) 扱(こ)く 咲く 敷く 頻(し)く&lt;br /&gt;如(し)く 堰く 背く(自) たなびく&lt;br /&gt;付く／着く(自) 突く 貫く 解く(他)&lt;br /&gt;届く(自) 泣く／鳴く 嘆く 抜く 引く&lt;br /&gt;ひらく 巻く 招く 向く(他) 焼く(他)&lt;br /&gt;分く(他)※2 避(よ)く※3&lt;br /&gt;漕ぐ 仰ぐ 泳ぐ 嗅ぐ さやぐ&lt;br /&gt;騒ぐ 凌ぐ 削ぐ そよぐ 継ぐ 脱ぐ(他) 揺るぐ&lt;br /&gt;後(おく)らす 生(おほ)す 翳す&lt;br /&gt;挿頭(かざ)す 貸す 交はす 返す／帰す&lt;br /&gt;暮らす／暗す 消す 越す 差す&lt;br /&gt;冷ます／覚ます／褪ます 散らす 尽くす&lt;br /&gt;照らす 通す 靡かす 均す 残す&lt;br /&gt;伏す(自) 増す 惑はす 委す 生(む)す 申す 渡す&lt;br /&gt;打つ 託(かこ)つ 消(け)つ&lt;br /&gt;毀(こぼ)つ 育つ(自) そぼつ※4&lt;br /&gt;滾(たぎ)つ／激つ 立つ(自) 経つ&lt;br /&gt;絶つ／断つ／裁つ 隔つ(自) 満つ(自)※5 持つ&lt;br /&gt;合ふ(自) 祝ふ 歌ふ うつろふ&lt;br /&gt;思ふ 交(か)ふ(自) 通ふ 食ふ 誘ふ&lt;br /&gt;添ふ(自) 慕ふ 候ふ たぐふ(自) 伝ふ(自)&lt;br /&gt;とぶらふ 習ふ 匂ふ 縫ふ 這ふ 払ふ／掃ふ※6&lt;br /&gt;紛ふ 惑ふ 舞ふ 結ふ 横たふ(自)※7 笑ふ&lt;br /&gt;浮ぶ(自) 選ぶ 叫ぶ 偲ぶ※8&lt;br /&gt;すさぶ※9 飛ぶ 並ぶ(自) 結ぶ 喜ぶ&lt;br /&gt;埋(うづ)む※10 惜しむ 押し並む&lt;br /&gt;霞む 沈む(自) しぼむ(自) すさむ(自) 住む&lt;br /&gt;澄む 染む(自) 頼む※11 包む つぼむ(自)&lt;br /&gt;摘む 積む 富む とよむ(自) 慰む(自)&lt;br /&gt;並(な)む(自) 盗む 読む 笑む&lt;br /&gt;当たる 天霧(あまぎ)る 誤る&lt;br /&gt;いろどる 至る 移る／映る／写る 送る／贈る&lt;br /&gt;劣る 掛かる 駆ける 翔る 重なる 語る&lt;br /&gt;変はる 帰る 刈る 狩る 借る 切る(他)&lt;br /&gt;霧る 括る 燻(くす／ふす)ぶる 曇る 削る&lt;br /&gt;籠る 凍る／氷る 離(さか)る 盛(さか)る&lt;br /&gt;探る 囀る 去る 繁る 霑(しほ)る 知る(他)&lt;br /&gt;撓(しを)る／萎る(他) 枝折(しを)る&lt;br /&gt;擦る／磨る／摩る(他) 添はる 滾(たぎ)る&lt;br /&gt;奉(たてまつ)る 辿る 溜る 賜はる 足る&lt;br /&gt;契る 散る 綴る 積もる 照る 成る 濁る&lt;br /&gt;乗る 走る 張る 降(ふ)る 隔たる 増さる&lt;br /&gt;まじる 纏(まつ)はる※12 回る 盛(も)る&lt;br /&gt;漏る／洩る※13 宿る 遣る 寄る&lt;br /&gt;横たはる 分かる/解(わか)る※14 折る(他)&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;u&gt;Chú&lt;/u&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;: những động từ có dấu ※ và con số theo sau là  những động từ vừa thuộc loại này, vừa thuộc loại kia. Chẳng hạn, động từ  生く (sống), nguyên lai vốn là động từ 4 đoạn nhưng sau lại được dùng như  động từ hai đoạn trên. Động từ 分く (phân chia, phân biệt) vừa là động từ  4 đoạn, vừa là động từ hai đoạn trên.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Động từ 4 đoạn tương đương với động từ 5 đoạn trong khẩu ngữ. Để ý thấy  động từ 4 đoạn không hoạt dụng theo âm o như trong văn ngữ. Theo cách  dùng Kana hiện đại thì động từ 書く có Mizenkei là 書か, thêm う phía sau  thành ra 書かう, tiếng Nhật hiện đại ghi là 書こう và chính 書こ là hình thái  thứ 5 của động từ 5 đoạn trong khẩu ngữ. Bản thân 書こ cũng được xem như  là Mizenkei.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 2. Động từ hoạt dụng một đoạn trên (上一段活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;kami ichidan katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  là loại động từ có ngữ căn thuộc âm i, ngữ vĩ biến đổi thành ru, re, yo  qua các hình thái. Vì âm i đứng trước âm e trong bảng 50 âm nên loại  động từ này được gọi là một đoạn trên (chỉ biến đổi theo âm i). Chẳng  hạn, động từ miru (見る, nhìn) có hình thức Mizenkei và Ren-yōkei đều là  mi, hình thức Shūshikei và Rentaikei đều là mi&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ru&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (見る), hình thức Izenkei là mi&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;re&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (見れ) và Meireikei là mi&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;yo&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (見よ). Để ý rằng hình thái Meireikei của động từ 見る trong khẩu ngữ là miro.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Dưới đây là một số động từ một đoạn trên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 66px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;着る 似る 煮る  干る 嚏(ひ)る&lt;br /&gt;見る みる 鑑みる 試みる 廻(み)る&lt;br /&gt;射る 居(ゐ)る 率(ゐ)る 率(ひき)ゐる 用ゐる&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Nếu để ý ta sẽ thấy loại động từ này không phân biệt được ngữ căn và ngữ vĩ qua một số hình thái biến đổi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 3. Động từ hoạt dụng hai đoạn trên (上二段活用,&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt; kami nidan katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  là loại động từ hoạt dụng theo 2 âm i (hoặc đi kèm với ru, re, yo), và  vì âm i đứng trước e trong bảng 50 âm nên nó được gọi là động từ hai  đoạn trên. Chẳng hạn, động từ tsuku (尽く) có hình thái Mizenkei và  Ren-yōkei đều là tsu&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ki&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (尽き), hình thái Shūshikei là tsu&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ku&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (尽く), hình thái Rentaikei là tsu&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;kuru&lt;/b&gt; (尽くる), hình thái Izenkei là tsu&lt;b style="font-family: arial;"&gt;kure&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (尽くれ) và Meireikei là tsu&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;kiyo&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (尽きよ). Để ý là hình thái Shūshikei và Rentaikei của loại này khác nhau chứ không giống nhau như ở động từ một đoạn trên.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một số động từ hai đoạn trên&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 162px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;尽く 生く(自) 起く 避(よ)く※1&lt;br /&gt;過ぐ 凪(な)ぐ&lt;br /&gt;落つ 朽つ そぼつ※2 満つ(自)※3&lt;br /&gt;閉づ 怖(お)づ 恥づ 漬(ひ)づ(自)※4 紅葉(もみ)づ※5 攀(よ)づ&lt;br /&gt;恋ふ ※6 生(お)ふ 強(し)ふ&lt;br /&gt;帯ぶ 浴ぶ 荒(あら)ぶ 神さぶ 媚ぶ 錆ぶ 忍ぶ 伸ぶ(自) 滅ぶ 侘ぶ&lt;br /&gt;恨む ※7 凍(し)む 夢む とよむ(他)&lt;br /&gt;悔ゆ 老ゆ 臥(こ)ゆ 報ゆ&lt;br /&gt;古る 下(お)る 懲る&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Động từ một đoạn trên và hai đoạn trên trong cổ văn đều biến đổi  theo thời gian và trở thành động từ một đoạn trên như trong tiếng Nhật  hiện đại.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 4. Động từ hoạt dụng một đoạn dưới (下一段活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;shimo ichidan katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  loại này chỉ gồm một động từ duy nhất trong cổ văn là keru (蹴る, đá). Nó  lần lượt biến đổi qua các hình thái Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshikei,  Rentaikei, Izenkei và Meireikei như sau: ke, ke, keru, keru, kere và  keyo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 5. Động từ hoạt dụng hai đoạn dưới (下二段活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;shimo nidan katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  là loại động từ biến đổi theo 2 âm e và u (hoặc đi kèm với ru, re, yo).  Vì âm e đứng sau i trong bảng 50 âm nên được gọi là động từ 2 đoạn dưới.  Nó lần lượt biến đổi qua các hình thái Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshikei,  Rentaikei, Izenkei và Meireikei như sau: ke, ke, ku, kuru, kere và keyo.  Chẳng hạn: hình thái cơ bản 告ぐ --&amp;gt; 告げ, 告げ, 告ぐ, 告ぐる, 告ぐれ và 告げよ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một số động từ hoạt dụng hai đoạn dưới&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 498px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;得(う) 更く 告ぐ 痩す 交ず 捨つ  出づ 寝(ぬ)&lt;br /&gt;明く 生く(他) 受く 思ひ掛く 掛く&lt;br /&gt;駆く 潜(かづ)く(他) 消(く) 砕く(自)&lt;br /&gt;離(さ)く／放く 授く 背く(他) 助く 長(た)く／闌く&lt;br /&gt;手向(たむ)く 付く／着く(他) 解く(自)&lt;br /&gt;届く(他) 泣く※1 ふりさく 負く 向く(他)&lt;br /&gt;焼く(自) 避(よ)く※2 分く(他)&lt;br /&gt;経(ふ) 上(あ)ぐ 掲(かか)ぐ 下(さ)ぐ&lt;br /&gt;捧ぐ 妨(さまた)ぐ 投ぐ 逃ぐ 脱ぐ(自)&lt;br /&gt;褪(あ)す 失(う)す 負(おほ)す 寝す 馳す 伏す(他)&lt;br /&gt;爆(は)ず 捨つ 当つ 凍(い)つ 企つ&lt;br /&gt;育つ(他) 立つ(他) 伝(つ)つ 泊(は)つ 果つ 隔つ(他) 満つ(他)&lt;br /&gt;出づ 奏づ 撫づ 漬(ひ)づ(他) 愛(め)づ 詣(まう)づ&lt;br /&gt;寝(ぬ) 寝(い)ぬ 重ぬ 兼ぬ 尋ぬ 訪ぬ 跳ぬ 撥ぬ 刎ぬ 委ぬ&lt;br /&gt;経(ふ) 合ふ(他) 敢ふ 与ふ 訴ふ&lt;br /&gt;憂ふ(愁ふ) 狼狽ふ 終(を)ふ 教ふ&lt;br /&gt;衰ふ 抱ふ 数ふ 変ふ／替ふ／換ふ／代ふ&lt;br /&gt;交(か)ふ(他) 加ふ 答ふ 障(さ)ふ&lt;br /&gt;備ふ 添ふ(他) たくはふ(蓄ふ・貯ふ)※3 たぐふ(他)&lt;br /&gt;称ふ 仕ふ 伝ふ(他) ながらふ(永らふ・存ふ)&lt;br /&gt;祓ふ 纏(まと)はる 横たふ(他) 比(よそ)ふ&lt;br /&gt;述ぶ 浮ぶ(他) 押しなぶ 調ぶ 統(す)ぶ 食ぶ 並ぶ(他) 伸ぶ(他)&lt;br /&gt;崇(あが)む 諦む 集む 改(あらた)む 諌む&lt;br /&gt;掠む 決む 浄む 極む 籠む 定む 冷む／覚む／褪む&lt;br /&gt;認(したた/みと)む 沈む(他) しぼむ(他) 占む&lt;br /&gt;染む(他) すさむ(他) 勧む 責む 初(そ)む 頼む※4&lt;br /&gt;つぼむ(他) 止(と/や)む 咎む 慰む(他)&lt;br /&gt;宥む 並(な)む(他) 始む 秘む 求む 弱む&lt;br /&gt;消ゆ 甘ゆ 癒ゆ 脅ゆ 覚ゆ 思ほゆ&lt;br /&gt;聞こゆ 崩(く)ゆ 凍(こご)ゆ 越ゆ 肥ゆ&lt;br /&gt;冴ゆ 栄ゆ 萎(しな／な)ゆ 絶ゆ 煮ゆ&lt;br /&gt;生(は)ゆ 映(は)ゆ 冷ゆ 増ゆ 吠ゆ 見ゆ 萌ゆ 燃ゆ&lt;br /&gt;濡る 憧(あくが/あこが)る 荒る 暴る&lt;br /&gt;溢る 現(あらは)る 生(あ)る 熟る&lt;br /&gt;埋もる うらぶる 遅る／後る 恐る 訪る&lt;br /&gt;溺る 隠る 枯る 離(か)る 切る(自) 崩る&lt;br /&gt;暮る 穢る 焦(こが)る 零(こぼ)る 壊る&lt;br /&gt;寂る 時雨(しぐ)る 知る(自) 撓(しを)る／萎る(自)&lt;br /&gt;擦る／磨る／摩る(自) 戯(たはむ／たは)る&lt;br /&gt;倒(たふ)る 黄昏る 垂る 疲る 潰る 連る&lt;br /&gt;流る 慣る／馴る 外る 離(はな)る 晴る 植う&lt;br /&gt;触(ふ)る 乱る 結ぼる 群る 窶る 分かる／別る 忘る 折る(自)&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Động từ một đoạn dưới và hai đoạn dưới trong văn ngữ đều biến đổi  theo thời gian và trở thành động từ một đoạn dưới trong khẩu ngữ như  ngày nay. Động từ hai đoạn dưới cũng là chủng loại có số lượng nhiều thứ  hai sau động từ 4 đoạn trong văn ngữ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 6. Động từ bất quy tắt cột "ka" (カ行変格活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;kagyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  loại này chỉ gồm một động từ duy nhất là ku (来) trong văn ngữ, tương  đương với kuru (来る) trong khẩu ngữ. Cách hoạt dụng của nó lần lượt qua  các hình thái Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshikei, Rentaikei, Izenkei và  Meireikei như sau: ko, ki, ku, kuru, kure, ko (koyo). Như vậy có thể  thấy động từ này biến đổi theo 3 âm ki, ku và ko trong bảng 50 âm. Hình  thái Meireikei của động từ này trong khẩu ngữ là koi thay vì koyo như  trong văn ngữ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 7. Động từ bất quy tắt cột "sa" (サ行変格活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;sagyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  về cơ bản, loại này chỉ gồm một động từ duy nhất là su (為) trong văn ngữ  và suru (する) trong khẩu ngữ. Tuy nhiên nó có thể đi kèm với các danh từ  gốc Hán, từ ngoại lai, phó từ để tạo ra động từ phức hợp, chẳng hạn như  びくびくする, 応ずる, ドライブする,...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Các hình thái biến đổi của động từ này trong văn ngữ là: se, shi, su, suru, sure, seyo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một vài động từ phức hợp loại này:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 50px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;愛す 臆す 恋す 死す 接す 達す 発す 欲す 全うす 魅す 嘉す&lt;br /&gt;案ず 甘んず 映ず 応ず 感ず 興ず 献ず 生ず 命ず 論ず&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;8. Động từ bất quy tắt cột "ra" (ラ行変格活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ragyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  loại động từ này biến đổi theo 4 âm ra, ri, ru, re trong bảng 50 âm và  có điểm dị biệt so với các loại động từ khác ở chỗ Shūshikei không kết  thúc bằng đuôi có âm u (u, ku, su, tsu, zu, nu, fu, bu, mu, yu, ru) như  thường thấy mà kết thúc bằng đuôi i. Chẳng hạn, động từ ari (有り) có hình  thái cơ bản là 有り, Mizenkei là 有ら, Ren-yōkei và Shūshikei là 有り,  Rentaikei là 有る, Izenkei và Meireikei là 有れ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Một số động từ thuộc loại này&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;いまそがり 居(を)り 来(け)り 侍り 持たり 有り&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;Đối với động từ 有り, từ thời Edo trở đi, nó đã biến thành động từ 4  đoạn, tương đương với động từ 5 đoạn trong tiếng Nhật hiện đại.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 9. Động từ bất quy tắt cột "na" (ナ行変格活用, &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;nagyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;):  là loại động từ hoạt dụng theo 4 âm của cột na là na, ni, nu và ne. Tuy  nhiên, ở hình thái Rentaikei và Izenkei, nó có sự khác biệt so với động  từ 4 đoạn nên được gọi là động từ bất quy tắc cột na. Nó biến đổi lần  lượt qua các hình thái Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshikei, Rentaikei,  Izenkei và Meireikei như sau: na, ni, nu, nuru, nure và ne. Chẳng hạn:  死な・死に・ 死ぬ・死ぬる・死ぬれ・死ね&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Loại này gồm 2 động từ là 死ぬ và 去(い)ぬ (往ぬ). Trong đó 死ぬ theo góc nhìn hiện đại thì nó thuộc loại động từ 5 đoạn, còn &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; 去(い)ぬ là phương ngữ được sử dụng tại vùng Kansai.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Qua phần này, chúng ta thấy được sự phức tạp của động từ trong cổ văn.  Tuy nhiên, sự phức tạp không phải vì số lượng hay các hình thái biến đổi  của chúng mà là ở việc phân định chủng loại của chúng. Nhiều động từ  vừa thuộc loại này, vừa thuộc loại kia và cách duy nhất để phân biệt  được chúng là học thuộc lòng.   &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6737811965299303414?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6737811965299303414/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-v.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6737811965299303414'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6737811965299303414'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-v.html' title='Cổ văn V'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-8533843014183862781</id><published>2011-06-17T14:17:00.001+09:00</published><updated>2011-06-17T14:17:50.467+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Zatsugaku'/><title type='text'>Trivia II</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:85%;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:teal;"&gt;Cách đọc của 々&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hẳn là nhiều người đã biết rằng trong tiếng Nhật, khi muốn lặp lại từ Kanji (Hán tự) thì người ta dùng "chữ" 々. Chẳng hạn như: 人々 (hitobito), 我々(wareware), 云々 (un nun)....&lt;br /&gt;Đôi khi "chữ" này còn thấy xuất hiện trong họ tên người, chẳng hạn: 佐々木 (Sasaki), 奈々子 (Nanako). Như vậy hẳn cũng có người sẽ tự hỏi "chữ" 々 bản thân nó đọc như thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực ra đây là một ký hiệu, không phải Hán tự mà cũng không phải chữ Hiragana hay Katakana. Theo từ điển thì 々 là Hán tự do Nhật chế, thuộc bộ ノ nhưng không được thừa nhận là Hán tự chính thức.&lt;br /&gt;々 được sử dụng khi muốn lặp lại một chữ nào đó và là một trong số cả Odoriji (踊り字) hay còn được gọi là Dō no jiten (同の字点, dấu lặp lại), Nomaten (ノマ点). Sở dĩ gọi là Nomaten (dấu No, Ma) vì nó được cấu thành từ chữ No (ノ) và Ma (マ) trong Katakana. Tuy nhiên tên gọi chính thức là Dō no jiten, hay còn gọi là ký hiệu lặp lại (繰り返し記号).&lt;br /&gt;Bản thân nó chỉ là một ký hiệu chỉ ý lặp lại của chữ Hán nên không có cách đọc nhất định nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài 々, trong tiếng Nhật còn nhiều Odoriji khác như liệt kê dưới đây.&lt;br /&gt;ゝ và ゞ được dùng để lặp lại chữ Hiragana trong cổ văn. ゝ là phiên bản trọc âm của ゞ.&lt;br /&gt;Chẳng hạn: trong tiếng Nhật hiện đại nếu viết là いすず thì trong cổ văn viết là いすゞ.&lt;br /&gt;おおた→おゝた.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tương tự, ký hiệu ヽ và ヾ cũng được dùng khi lặp lại chữ Katakana như ゝ và ゞ .&lt;br /&gt;〃 được gọi là Nonoten (ノノ点) và được dùng để lặp lại số từ hay một đoạn văn.&lt;br /&gt;く và ぐ, gọi là Ku no jiten (くの字点), được dùng khi viết theo hàng dọc, từ bên phải sang trái như lối viết truyền thống và diễn tả ý lặp lại của hai chữ Kana trở lên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả những Odoriji kể trên đều không được sử dụng trong văn bản tiếng Nhật hiện đại, ngoại trừ 々.                     &lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-8533843014183862781?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/8533843014183862781/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-ii.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8533843014183862781'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8533843014183862781'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-ii.html' title='Trivia II'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1251910501472398483</id><published>2011-06-14T20:21:00.001+09:00</published><updated>2011-06-14T20:21:55.097+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Zatsugaku'/><title type='text'>Trivia I</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Lời nói đầu:&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Tạp học (Zatsugaku) không phải là một nền học vấn chính thống bài bản gì  mà chỉ là những kiến thức phổ thông vụn vặt mà bất cứ ai cũng biết, nên  biết và có thể chưa biết. Nó bao trùm mọi phương diện, mọi đề tài, đủ  các mặt của đời sống, đi từ văn học nghệ thuật cho tới khoa học, kỹ  thuật, chính trị....&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nó trả lời cho những câu hỏi linh ta linh tinh vụn vặt, kiểu như tại sao  mèo lại ăn thịt chuột, tại sao chó mèo lại không ưa nhau.... Tại Nhật  Bản, tạp học rất được ưa chuộng và rất nhiều quyển sách về nó bán rất  chạy. Tại Việt Nam, người dân có vẻ cũng rất yêu thích thể loại kiến  thức "hỗ lốn" này qua những chương trình như "đường lên đỉnh  Olympia"....&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Loạt bài viết này gom góp những tri thức phổ thông và vụn vặt liên quan  đến các mặt của đời sống nước Nhật, con người Nhật Bản. Bài viết có sử  dụng những kiến thức thu gom được từ sách vở, báo chí, phim ảnh,  internet cũng như kiến thức thu gom được từ thực tế dưới hình thức mỗi  kỳ đăng tải một đề tài. Vì là tạp học, nên cách chọn đề tài cũng không  theo quỹ đạo bài bản nào, hứng cái gì thì viết về cái đó, khi nào hứng  thì viết.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;  &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Hy vọng loạt bài viết này giúp người đọc mua vua được vài trống canh. Và  cũng hoan nghênh bất kỳ đóng góp nào từ phía người đọc dưới hình thức  post reply.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; ----------------------------------------------------------------------------------------------&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:seagreen;"&gt;NG là gì?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Nếu ai từng làm việc cho các công ty Nhật theo hệ sản xuất thì có lẽ sẽ  biết đến từ này. Các công ty sản xuất Nhật thường đánh giá chất lượng  của sản phẩm họ làm ra theo mức độ OK và NG. Nói nôm na là đạt và không  đạt, sản phẩm tốt và sản phẩm hỏng, lỗi. Từ này có nguồn gốc ra sao? &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; NG, tiếng Nhật đọc là enujii, theo cách phát âm tiếng Anh của hai chữ  cái N và G. Đây là viết tắt của "No Good", từ tiếng Anh do Nhật chế để  diễn tả ý không đạt, không tốt, hỏng rồi. Ban đầu, từ này là thuật ngữ  của ngành điện ảnh và truyền hình. Đối với những cảnh quay không đạt,  diễn không tốt hay những thước phim tệ, đạo diễn nói NG và ra lệnh quay  lại. Thế mà không biết từ bao giờ, từ này đã thẩm thấu vào văn hóa đại  chúng, cả xã hội Nhật đều sử dụng rộng rãi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Vì là tiếng Anh do Nhật chế nên nói NG sẽ không được người Âu Mỹ hiểu đúng ý như người Nhật hiểu. Nguồn gốc của nó là như vậy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:seagreen;"&gt;Nguồn gốc từ tempura&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Tempura là một trong những món ăn đại diện cho nền ẩm thực Nhật Bản,  cùng với Sushi, Sashimi, Sukiyaki, nó được nhiều nơi trên Thế giới biết  đến. Tempura được "dịch" sang tiếng Việt với cái tên mô tả đúng bản chất  của nó và âm đọc cũng hao hao thanh điệu của từ tempura trong tiếng  Nhật: tẩm bột rán.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://farm3.static.flickr.com/2179/2463273787_4528848ae7_o.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Hẳn nhiều người cũng đã biết món này ngon nhờ bọc bột (chiên xù) rồi thả  vào dầu sôi. Thực phẩm được chọn đem chiên (rán) cũng đa dạng, từ cá,  thịt, rau cải cho tới các loại nấm, nhưng phổ biến nhất vẫn là tôm. Món  này có nguồn gốc từ thời Chiến quốc, thế kỷ XV, XVI, khi nước Nhật rơi  vào cảnh loạn lạc, các sứ quân chỉ chực thôn tính lẫn nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Thời cổ, người Nhật không ăn thịt động vật như ngày nay mà chủ yếu là ăn  cá, chim và rau đậu các loại. Họ quan niệm ăn thịt động vật là man rợ,  không văn minh. Nhưng khi người Bồ Đào Nha đến Nhật trong thời Chiến  quốc, họ đã mang theo thói quen ăn thịt và việc sử dụng dầu trong ăn  uống trở nên thịnh hành.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Người ta cho rằng từ Tempura trong tiếng Nhật bắt nguồn từ "tempero"  trong tiếng Bồ Đào Nha, nghĩa là gia vị hoặc từ "templo" trong tiếng Tây  Ban Nha, nghĩa là chùa chiền, nhà thờ vì đây là nền tảng cho các món ăn  chay của nhà thờ Nambanji của các giáo sĩ phương Tây được tướng Oda  Nobunaga cho phép xây dựng ở Kyōto.     &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1251910501472398483?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1251910501472398483/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-i.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1251910501472398483'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1251910501472398483'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/trivia-i.html' title='Trivia I'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-5775899354757251617</id><published>2011-06-12T23:57:00.003+09:00</published><updated>2012-01-11T22:24:45.078+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn IV</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:85%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Khái yếu về chủng loại hoạt dụng của động từ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong phần trước ta đã biết động từ trong tiếng Nhật hiện đại và cổ văn  đều có chung 6 (sáu) cách hoạt dụng là Mizenkei, Ren-yōkei, Shūshike,  Rentaikei, Izenkei và Meireikei. Tất cả các động từ đều có sáu cách biến  đổi này, tuy nhiên quỹ đạo biến đổi của chúng khác nhau phụ thuộc vào  chủng loại động từ. Về chủng loại hoạt dụng của động từ thì có thể nói  đây là một trong những phần phức tạp nhất của tiếng Nhật hiện đại nói  chung và cổ văn nói riêng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khẩu ngữ (tiếng hiện đại), động từ có năm chủng loại hoạt dụng là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Động từ hoạt dụng 5 đoạn (五段活用, godan katsuyō)&lt;br /&gt;2. Động từ hoạt dụng một đoạn trên (上一段活用, kami ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;3. Động từ hoạt dụng một đoạn dưới (下一段活用, shimo ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;4. Động từ bất quy tắt cột "ka" (カ行変格活用, kagyō henkaku katsuyō)&lt;br /&gt;5. Động từ bất quy tắt cột "sa" (サ行変格活用, sagyō henkaku katsuyō).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong văn ngữ (tiếng Nhật cổ), động từ có chín chủng loại hoạt dụng là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Động từ hoạt dụng 4 đoạn (四段活用, yondan katsuyō)&lt;br /&gt;2. Động từ hoạt dụng một đoạn trên (上一段活用, kami ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;3. Động từ hoạt dụng hai đoạn trên (上二段活用, kami ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;4. Động từ hoạt dụng một đoạn dưới (下一段活用, shimo ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;5. Động từ hoạt dụng một đoạn dưới (下二段活用, shimo ichidan katsuyō)&lt;br /&gt;6. Động từ bất quy tắt cột "ka" (カ行変格活用, kagyō henkaku katsuyō)&lt;br /&gt;7. Động từ bất quy tắt cột "sa" (サ行変格活用, sagyō henkaku katsuyō)&lt;br /&gt;8. Động từ bất quy tắt cột "ra" (ラ行変格活用, ragyō henkaku katsuyō)&lt;br /&gt;9. Động từ bất quy tắt cột "na" (ナ行変格活用, nagyō henkaku katsuyō)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy có thể thấy cách hoạt dụng của động từ trong cổ văn phức tạp hơn  động từ trong tiếng Nhật hiện đại. Từng loại động từ này sẽ được lần  lượt giới thiệu ở phần sau, nhưng trước hết, để hiểu thế nào là "đoạn"  (hàng) và "cột" thì nên xem qua bảng 50 âm trong tiếng Nhật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;table id="ncode_imageresizer_warning_5" class="ncode_imageresizer_warning" width="800"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="td1" width="20"&gt;&lt;img alt="" src="http://ttvnol.com/images/muare/wol_error.gif" border="0" width="16" height="16" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class="td2"&gt;Hình ảnh này đã được thu nhỏ lại. Hãy click vào đây để xem hình gốc. Kích thước gốc là 1020x768.&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_5" src="http://www7.pioneer.co.jp/edu/contents/39.JPG" alt="" class="imageattach" border="0" width="800" height="602" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, để thuận tiện hơn trong việc giao lưu văn hóa, truyền dạy cho  người ngoại quốc, một phần lớn văn bản tiếng Nhật được viết theo chiều  ngang, từ trái sang phải nhưng lối viết truyền thống là từ trên xuống,  từ phải sang trái như bảng trên đây. Khái niệm "đoạn" và "cột" nói đến  trong bài dựa trên nguyên tắc viết từ phải sang trái như bảng trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các sách ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại (cho người ngoại quốc),  người ta thường phân nhóm các loại động từ thành nhóm 1, nhóm 2 với một  số quy tắc nhưng ở đây tôi giữ nguyên cách phân chia như trong các sách  ngữ pháp cổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Năm loại động từ hoạt dụng trong khẩu ngữ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Động từ hoạt dụng 5 đoạn (五段活用, &lt;b&gt;godan katsuyō&lt;/b&gt;): nói nôm na,  đây là loại động từ có ngữ căn biến đổi theo đoạn "a" trong bảng 50 âm  (あ・か・さ・た・な・は・ま・ や・ら・わ). Để biết động từ có thuộc loại này không, chỉ cần  thêm ない vào sau động từ, nếu ngữ căn biến đổi theo đoạn "a"  (わ・か・さ・た・な・は・ま・ら) thì động từ đó thuộc 5 đoạn. Chẳng hạn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Trích:&lt;/div&gt;  &lt;table border="0" cellpadding="6" cellspacing="0" width="100%"&gt;  &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;   &lt;td class="alt2" style="border: 1px inset;"&gt;         話す+　ない=　話さない&lt;br /&gt;行く+　ない=　行かない       &lt;/td&gt;  &lt;/tr&gt;  &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt; &lt;/div&gt;2. Động từ hoạt dụng một đoạn trên (上一段活用, &lt;b&gt;kami ichidan katsuyō&lt;/b&gt;):  nói nôm na, đây là loại động từ có ngữ căn biến đổi theo đoạn "i" trong  bảng 50 âm. Để biết động từ có thuộc loại này không, chỉ cần thêm ない  vào sau động từ, nếu ngữ căn biến đổi theo đoạn "i" (い・き・し・ち・に・ひ・み・り)  thì động từ đó thuộc 5 đoạn. Chẳng hạn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Trích:&lt;/div&gt;  &lt;table border="0" cellpadding="6" cellspacing="0" width="100%"&gt;  &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;   &lt;td class="alt2" style="border: 1px inset;"&gt;         起きる+　ない=　起きない&lt;br /&gt;見る+　ない　=見ない       &lt;/td&gt;  &lt;/tr&gt;  &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt; &lt;/div&gt;3. Động từ hoạt dụng một đoạn dưới (下一段活用, &lt;b&gt;shimo ichidan katsuyō&lt;/b&gt;):  nói nôm na, đây là loại động từ có ngữ căn biến đổi theo đoạn "e" trong  bảng 50 âm. Để biết động từ có thuộc loại này không, chỉ cần thêm ない  vào sau động từ, nếu ngữ căn biến đổi theo đoạn "e" (え・け・せ・て・ね・へ・め・れ)  thì động từ đó thuộc 5 đoạn. Chẳng hạn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Trích:&lt;/div&gt;  &lt;table border="0" cellpadding="6" cellspacing="0" width="100%"&gt;  &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;   &lt;td class="alt2" style="border: 1px inset;"&gt;         教える+　ない=　教えない&lt;br /&gt;食べる+　ない=　食べない       &lt;/td&gt;  &lt;/tr&gt;  &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt; &lt;/div&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:lime;"&gt;*Lưu ý:&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; vì sao gọi là động từ một  đoạn trên và một đoạn dưới? Lý do rất đơn giản, hai loại động từ này  chỉ biến đổi theo một đoạn (i hoặc e) và trong bảng 50 âm, i đứng trước e  nên động từ biến đổi theo đoạn i gọi là động từ một đoạn trên, cái còn  lại là động từ một đoạn dưới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Động từ bất quy tắt cột "ka" (カ行変格活用, &lt;b&gt;kagyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;):  động từ bất quy tắc này chỉ gồm 来る. Các quy tắc biến đổi của nó cần phải  thuộc nằm lòng. Ở đây sẽ không nhắc đến cách biến đổi của nó vì giả  định bạn đọc đã quá rành rồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Động từ bất quy tắt cột "sa" (サ行変格活用, &lt;b&gt;sagyō henkaku katsuyō&lt;/b&gt;):  động từ bất quy tắc này chỉ gồm する（～する）. Các quy tắc biến đổi của nó cần  phải thuộc nằm lòng. Ở đây sẽ không nhắc đến cách biến đổi của nó vì  giả định bạn đọc đã quá rành rồi.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-5775899354757251617?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/5775899354757251617/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-iii_12.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5775899354757251617'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/5775899354757251617'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-iii_12.html' title='Cổ văn IV'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-2581194329695277451</id><published>2011-06-08T00:40:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:27:12.441+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn III</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Trước khi đi sâu vào phần cổ văn, có một số thứ trong tiếng Nhật bạn cần  nắm được. Thực ra những thứ này không hẳn là có liên quan mật thiết đến  văn pháp cổ mà chỉ là những điều cơ bản về tiếng Nhật mà học sinh Nhật  được giáo dục trong trường. Tuy nhiên, khi truyền dạy tiếng Nhật cho  người ngoại quốc thì những phần này được lược bỏ, và vì vậy gây chút ít  khó khăn cho họ khi muốn tiếp cận cổ văn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Sự hoạt dụng của động từ&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Hẳn nhiều người học tiếng Nhật đã từng nghe qua từ "hoạt dụng" trong các sách ngữ pháp.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Hoạt dụng (Katsuyō) là từ dùng chỉ sự biến đổi của phẩm từ (bao gồm động  từ, hình dung từ và hình dung động từ) mà nổi bật nhất là động từ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Như các bạn biết, động từ trong tiếng Nhật được cấu thành từ hai thành  phần là ngữ căn và ngữ vĩ. Khi hoạt dụng, ngữ căn là phần giữ nguyên và  ngữ vĩ là phần biến đổi. Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;Trong động từ 話す (hanasu: nói chuyện) thì "hana" là ngữ căn, "su" là ngữ vĩ. Khi đi chung với ます thì 話す biến đổi thành 話します. Đây chính là sự hoạt dụng.&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Tương tự, khi cần diễn đạt những ý khác nhau như phủ định, mệnh  lệnh, giả định,... thì ngữ vĩ của động từ cũng biến đổi khác nhau, tùy  thuộc vào đi liền sau nó diễn tả ý gì. Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 82px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;「話す」＋「ない」　→　話さない phủ định&lt;br /&gt;「話す」＋「ば」　→　話せば giả định&lt;br /&gt;「話す」＋「。（mệnh lệnh）」　→　話せ。（mệnh lệnh）&lt;br /&gt;「話す」＋「う」　→　話そう  ý chí&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Như vậy bạn có thể thấy rõ phần ngữ vĩ của động từ "hanasu" biến  đổi qua nhiều hình thái khác nhau như "su", "se", "sa", "sō". Đây chính  là các hình thức hoạt dụng của động từ. Trong tiếng Nhật có cả thảy 6  (sáu) hình thức hoạt dụng của phẩm từ, chúng lần lượt được giới thiệu  như dưới đây.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 1. &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:red;"&gt;Mizenkei&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (未然形, Hán Việt đọc là "vị  nhiên hình"): hình thức này còn có tên khác (cũ) là Shōzengen (将然言),là  hình thức hoạt dụng đầu tiên của động từ trong tiếng Nhật. Ngữ vĩ của  động từ hoạt dụng ở hình thức này khi đi liền sau nó là các trợ động từ  「ない」「せる・させる」「れる・ られる」「う・よう」 (đối với văn nói, hay tiếng Nhật thường dùng  hằng ngay) hay 「ず」「む」「す・さす」「しむ」 「る・らる」 (đối với văn viết, hay cổ văn).  Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;「動かない」、「起きない」、「寝ない」,「動こう」、「起きよう」、「寝よう」 đều là hình thức hoạt dụng Mizenkei của động từ "ugoku", "okiru" và "neru"&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;*Chú ý:&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; đối với động từ, nếu 「～ない」 đi sau phần ngữ vĩ thì  động từ đó ở hình thức Mizenkei, nhưng đối với hình dung từ (tính từ  đuôi i) và hình dung động từ (tính từ đuôi na), nếu 「～ない」 đi sau ngữ vĩ  thì hình dung từ đó ở hình Ren-yōkei (連用形).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Bản thân từ 未然 mang ý nghĩa là tương lai, chỉ sự chưa đến Mizenkei cũng  có thể được xem như hình thức tương lai. Chẳng hạn 歌おう, định hát, động  từ này hàm ý hành động hát vẫn chưa diễn ra ngay lúc nói mà có thể sẽ  xảy ra trong tương lai gần.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 2. &lt;/span&gt;&lt;span style=";font-family:arial;color:red;"  &gt;&lt;b&gt;Ren-yōkei&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (連用形, Hán Việt đọc là "liên  dụng hình"): là hình thức hoạt dụng thứ hai của động từ trong tiếng  Nhật. Đây là hình thức dừng câu văn tạm thời (dấu 「、」) hoặc khi theo sau  ngữ vĩ là các trợ động từ 「～ます」「～た」「～て」 đối với văn nói (hiện đại) hoặc  「き・けり・たり」 đối với văn viết (cổ văn).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 3. &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:red;"&gt;Shūshikei&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (終止形, âm Hán Việt là "chung  chỉ hình"): là hình thức hoạt dụng thứ ba của động từ trong tiếng Nhật.  Đúng như tên gọi của nó, đây là hình thức chấm dứt câu văn (theo sau là  dấu 「。」) hoặc khi theo sau ngữ căn là 「と」. Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;彼は来ると思います。Trong này động từ "kuru" ở hình thái Shūshikei&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Hình thái Shūshikei của động từ còn được gọi là dạng từ điển của  động từ (hay gọi nôm na là "động từ nguyên mẫu") vì được dùng để liệt kê  mục tra cứu trong từ điển. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 4. &lt;/span&gt;&lt;span style=";font-family:arial;color:red;"  &gt;&lt;b&gt;Rentaikei&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (連体形, Hán Việt đọc là "liên  thể hình"): là hình thức hoạt dụng thứ tư của động từ trong tiếng Nhật.  Đây là hình thái của động từ khi đi liền với thể ngôn (体言, taigen, cụ  thể là danh từ và đại danh từ) và được dùng như tu sức ngữ (bổ ngữ??).  Bản thân từ "Rentai" mang ý nghĩa là giải thích, tức là nó làm rõ ý  nghĩa của thể ngôn (danh từ) đi liền sau nó. Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;Trong câu 「高速道路で走る車」 thì động từ 走る giải thích cho danh từ 車 phía sau. Nó làm rõ ý nghĩa: xe như thế nào? Xe chạy trên đường cao tốc. Động từ "hashiru" trong trường hợp này ở dạng Rentaikei.&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Động từ ở Rentaikei khi đi liền sau nó là các hệ trợ từ 「ぞ・なむ・や・か」  để kết thúc câu văn đối với văn ngữ (cổ văn) hoặc đi sau nó là trợ từ  「か・ぞ」, 「とき・こと（体言）」「のに」 「ので」 đối với khẩu ngữ (văn đương đại).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 5. &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:red;"&gt;Kateikei&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (仮定形, Hán Việt đọc là "giả  định hình"): là hình thức hoạt dụng thứ năm của động từ trong tiếng Nhật  đối với khẩu ngữ. Trong văn ngữ, hình thức này được gọi là &lt;/span&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:red;"&gt;Izenkei&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (已然形). Hình thức này kết hợp với trợ từ ば để đặt ra tình huống giả định, tiếng Việt dịch nôm na là "nếu". &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px; font-family: arial;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;Trong 「行けば」, 「書けば」 thì 「行け」 và 「書け」 là hình thức Kateikei của động từ.&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;6. &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:red;"&gt;Meireikei&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (命令形, Hán Việt đọc là  "mệnh lệnh hình"):là hình thức hoạt dụng thứ năm của động từ trong  tiếng Nhật. Hình thức này cũng kết thúc câu bằng dấu 「。」 như đối với  Shūshikei. Tuy nhiên có sự khác biệt mà chúng ta đều biết.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 「読む」 và 「読め」 thì cái nào là Shūshikei, cái nào là Meireikei thì hẳn bạn đã có câu trả lời.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Trên đây là phần giới thiệu qua 6 cách hoạt dụng của động từ trong tiếng  Nhật. Nếu chỉ học tiếng Nhật hiện đại thì bạn không cần phải nhớ tên  từng cách hoạt dụng này, nhưng để thuận tiện hơn cho việc học cổ văn thì  bạn nên ghi nhớ chúng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Trong bài tiếp theo sẽ giới thiệu về các chủng loại động từ trong tiếng Nhật. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-2581194329695277451?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/2581194329695277451/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-iii.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2581194329695277451'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/2581194329695277451'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-iii.html' title='Cổ văn III'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3712915314786744281</id><published>2011-06-05T16:51:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:26:26.433+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn II</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Tiếng Nhật khó. Hẳn không ít người vẫn luôn giữ ấn tượng này trong đầu.  Tiếng Nhật cổ càng khó, đây là hệ quả của vế trước. Tuy nhiên, tôi hy  vọng loạt bài này sẽ giúp bạn nghĩ ngược lại về tiếng Nhật, về cổ văn  tiếng Nhật. Nhưng trước hết, cổ văn là gì, tại sao phải học cổ văn, cần  những nền tảng gì để học cổ văn? Những vấn đề này sẽ lần lượt được giới  thiệu đến độc giả.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;font-size:130%;"  &gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Cổ văn là gì?&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Cổ văn, theo nghĩa hạn hẹp, là danh từ chung chỉ "văn" (ngữ pháp, ngôn  từ) tiếng Nhật từ thời Edo trở về trước và có nhiều điểm dị biệt với  tiếng Nhật hiện đại. Đương nhiên rồi, tiếng Việt ngày nay cũng khác xa  nhiều tiếng Việt thời Hai Bà Trưng. Cổ văn (Nhật) là tên gọi chỉ chung  quốc văn (Nhật) từ thời Edo trở về trước.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Cổ văn biến đổi qua từng thời đại. Cổ văn thời Heian khác với thời Edo  nhưng tựu trung vẫn có nhiều điểm tương đồng. Loạt bài viết này chủ yếu  tập trung vào loại cổ văn kể từ giữa thời Heian trở về sau. Thời kỳ này  đã sản sinh ra nhiều kiệt tác văn học, tùy bút trứ danh như "Makura  Zōshi" của Sei Shōnagon, "Genji Monogatari" của Murasaki Shikibu, "Tosa  Nikki", "Sarashina Nikki",...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Đến thời Kamakura thì có thêm nhiều kiệt tác như "Heike Monogatari",  "Tsurezure gusa" và đến thời Edo thì xuất hiện thêm nhiều tác phẩm,  nhiều thể loại có giá trị khác nữa.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; *&lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;u&gt;Lưu ý&lt;/u&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;: xin hiểu từ "cổ văn" dùng trong loạt bài này là cổ văn tiếng Nhật. Các thứ tiếng khác không bàn đến.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;color:blue;"  &gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vì sao phải học cổ văn?&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Vì nếu bạn học giáo dục phổ thông tại Nhật, hay con cái theo học tại  đây thì cổ văn nằm trong chương trình giáo dục bắt buộc (cấp 3).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Tiếng nói là tấm gương phản chiếu chính xác nhất suy nghĩ, tính cách,  tâm hồn của một dân tộc, một thời đại. Bằng cách học hỏi tiếng nói của  người xưa, bạn có thể hiểu được cuộc sống đương thời như thế nào, họ cảm  thấy, suy nghĩ thế nào về sự vật sự việc gì đấy. Đây là một điều không  thể trải nghiệm được bằng các tái hiện lịch sử thông thường. Hiểu được  cổ văn tức là hiểu được văn hóa, lối sống của người xưa thông qua các  ghi chép, sách vở để lại.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Ngôn ngữ có tính kế thừa. Tiếng Việt ngày nay là thành quả phát triển  từ nền tảng tiếng Việt cổ. Tiếng Nhật cũng vậy. Thông qua việc học cổ  văn, chắc chắn bạn sẽ hiểu rõ, hiểu kỹ và hiểu sâu hơn về tiếng Nhật  hiện đại.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;color:blue;"  &gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;Cần những nền tảng gì để học cổ văn?&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Một nền tảng kiến thức về tiếng Nhật hiện đại vững chắc. Cái này là đương nhiên, khỏi cần giải thích ha.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Có một nền tảng tiếng mẹ đẻ (Việt) vững chắc. Khỏi phải nói, nếu bạn  không hiểu kỹ tiếng mẹ đẻ của mình thì chỉ có thể tiếp thu được cái vỏ  bề ngoài của ngoại ngữ thôi, không bao giờ tiếp thu được cái chân tủy,  cái cực ý của nó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Tôi không dùng cái đầu để hiểu ngôn ngữ, tôi chỉ dùng tâm hồn để cảm nhận nó. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Tôi không dùng cái đầu để ghi nhớ ngôn ngữ mà chỉ khắc sâu nó vào trong tâm hồn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Biết liên tưởng các sự việc. Biết nhìn ra chỗ "trùng trùng duyên khởi". Chỗ này không hiểu thì tra Google há.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; - Đừng câu nệ vào câu chữ. Có khi tôi nói thế nhưng ý không phải thế.  Phải biết dùng tâm hồn của bạn mà nhận ra cái ý tôi muốn nói.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Nếu vẫn chưa rõ cổ văn là gì thì có thể xem qua một bài ví dụ tại &lt;/span&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:green;"&gt;&lt;a href="http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van.html" target="_blank"&gt;đây (click vào)&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; *&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;u&gt; Lưu ý:&lt;/u&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; những điều khuyên trên đây chỉ là tương đối, tùy từng căn cơ mà bạn có th&lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;ể tiếp nhận theo những cách khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Cổ văn khác tiếng Nhật đương đại thế nào?&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Xét về góc độ văn phạm, cách dùng từ, ý nghĩa của từ thì cổ văn và tiếng  Nhật hiện đại dĩ nhiên là khác nhau. Nhưng không phải đây là hai thế  giới hoàn toàn khác biệt nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Ông của bạn dĩ nhiên là khác cha của bạn, và dĩ nhiên là cha bạn khác  chính bạn. Nhưng những người này đều có cùng những đặc tính cùng duyên  cùng nghiệp với nhau ở một vài khía cạnh nào đó. Ngôn ngữ cũng vậy. Như  đã nói trước, nó có tính kế thừa. Tiếng Nhật hiện đại được phát triển từ  tiếng Nhật cổ, lẽ dĩ nhiên là nó mang trong mình những đặc điểm của  tiếng cổ và biến hóa, thay đổi theo thời gian. Các thứ tiếng khác cũng  vậy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Như đã nói trên, tiếng Nhật cổ và tiếng Nhật đương đại khác nhau chủ yếu  ở văn phạm và từ ngữ. Chỉ cần nắm được hai yếu tố này là bạn có thể  hiểu cổ văn như hiểu tiếng hiện đại. Vậy thì có khác nhau nhiều lắm đâu?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Một điểm khác nữa là trong tiếng hiện đại, người ta đòi hỏi bạn phải  thạo bốn kỹ năng là nghe, nói, đọc và viết. Nhưng đối với cổ văn, bạn  chỉ cần thạo đọc (hiểu ý nghĩa) là được. Vì bạn nói ai nghe? Có ai nói  bạn nghe? Có ai đọc những gì bạn viết?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Vậy là cổ văn dễ học hơn tiếng Nhật hiện đại rồi nhé!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;font-size:130%;"  &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Cách đọc cổ văn&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Một lần đọc tạp chí Hán Nôm thấy nói thời Hai Bà Trưng, từ "trăng" được  đọc là "blăng". Tiếng Nhật cổ và tiếng Nhật hiện đại cũng vậy, có nhiều  điểm dị biệt trong cách phát âm và do đó đưa đến dị biết trong cách dùng  chữ Kana. Trong sinh hoạt hàng ngày, để thuận tiện và dễ nói, nhiều khi  người ta nói lược bớt từ, đọc nuốt chữ. Đây là hiện tượng thường thấy  trong mọi ngôn ngữ. Đối với tiếng Nhật hiện đại, có thể thấy rõ hiện  tượng này qua các ví dụ sau:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 48px;"&gt;している nói tắt thành してる&lt;br /&gt;してしまう nói tắt thành しちゃう&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  Tiếng Nhật cổ cũng vậy, phát âm cũng  được lược bỏ trong nhiều trường hợp, rồi dần dần những thứ được lược bỏ  đó dần định hình, trở thành lối phát âm chuẩn cho tới ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tương tự, cách dùng chữ Kana cũng có nhiều thay đổi. 歴史的仮名遣い (Rekishi  teki kanadukai): cách dùng chữ Kana có tính lịch sử. Cụm từ này dùng để  chỉ việc dùng Kana trong cổ văn, có nhiều điểm dị biệt so với việc dùng  Kana trong tiếng Nhật hiện đại. Nó có một số quy tắc, tuy không nhiều  lắm nhưng buộc bạn phải ghi nhớ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 1. Đầu tiên là bản chữ cái. Trong bảng chữ cái tiếng Nhật hiện đại có  hai chữ cái sau bị lược bỏ khỏi bảng chữ ban đầu:ゐ và ゑ. Chữ ゐ đọc là i,  tương đương với イ hay い, chữ ゐ đọc là e và tương đương với エ hay え.  Thời cổ, bộ ba chữ ゐ・ゑ・を thường được dùng với vai trò của ba chữ イ・エ・オ  trong tiếng Nhật hiện đại. Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 60px;"&gt;ゐる→イル&lt;br /&gt;ゑみ→エミ&lt;br /&gt;をとこ→おとこ&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  Lưu ý là về cách đọc thì ゐ đọc như chữ い, ゑ đọc như chữ え.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Trong tiếng Nhật hiện đại, chữ を không bao giờ đứng đầu một từ hay câu,  nhưng trong cổ văn thì nó được dùng như chữ お nên việc đứng đầu cụm từ,  đứng đầu câu là điều bình thường.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 2. Về cách dùng Kana thời cổ, các chữ cái ぢ, づ và む được dùng thay cho じ, ず và ん.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Chẳng hạn:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 60px;"&gt;はじ(haji: sự xấu hổ) thì trong cổ văn được viết là　はぢ&lt;br /&gt;めずらし　(mezurashi: sự hiếm hoi) trong cổ văn được viết là 　めづらし&lt;br /&gt;かんなづき (kannaduki: tháng 10) trong cổ văn được viết là　かむなづき&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  Bạn đã biết じ và ぢ, ず và づ có cách đọc  giống nhau và thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp vài trường hợp dùng ぢ và づ  trong tiếng Nhật hiện đại. Thế nhưng tại sao ん lại trở thành む trong cổ  văn? Thử đọc lên xem? Hai chữ này phát âm cũng gần giống nhau mà!&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 3. くゎ đọc như là か và ぐゎ đọc như là が, chẳng hạn&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;    &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 36px;"&gt;くわんねん→カンネン&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  4. Các ngữ vĩ như わ,い,う,え,お được thay  thế bằng は, ひ,ふ,へ,ほ trong ngữ văn. Nói cách khác, trong một cụm từ mà có  các chữ wa, i, u, e và o đứng từ vị trí thứ hai trở đi thì chúng sẽ  được viết là は,ひ,ふ,へ,ほ. Ví dụ:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 60px;"&gt;つはもの→つわもの (vẫn đọc là Tsuwamono: lính tráng)&lt;br /&gt;ひたひ→ひたい (vẫn đọc là hitai: cái trán)&lt;br /&gt;いふ→いう (vẫn đọc là iu: nói)&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;  &lt;b style="font-family: arial;"&gt;*Lưu ý:&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; các chữ  は,ひ,ふ,へ,ほ nếu  đứng đầu cụm từ thì vẫn đọc là ha, hi, hu, he, ho như bình thường. Chỉ  khi làm nhiệm vụ ngữ vĩ thì mới đọc là wa, i, u, e và o.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tiếng Nhật hiện đại có trường hợp của trợ từ は đọc như わ cũng bắt nguồn từ việc này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; 5. Tiếp theo là phần quy tắc dễ nhầm lẫn nhất trong cổ ngữ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + 「アウ」→「オウ」: nếu u đứng sau hàng a trong cổ văn thì nó được đọc là o-u (trường âm). Ví dụ:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;    &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 48px;"&gt;かうべ　→　こうべ&lt;br /&gt;ようす→ヨウス&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  + 「イウ」→「ユウ」: nếu u đứng sau hàng i trong cổ văn thì chèn ゅ vào giữa. Ví dụ:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;    &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 48px;"&gt;きふ　→　きゅふ→　きゅう&lt;br /&gt;うつくしう→ウツクシュウ&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  + 「エウ」→「ヨウ」: nếu u đứng sau hàng e trong cổ văn thì nó được đọc như o-u. Ví dụ:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;    &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 48px;"&gt;てうし→チョウシ&lt;br /&gt;てふてふ＝てうてう→ちょうちょう&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  Đầu tiên bạn đổi hàng e trong cổ văn  thành i, lấy ví dụ trên thì てう→ちう、sau đó chèn ょ vào giữa. Theo quy tắc  này thì ちう được kèm ょ vào giữa, thành ちょう. Ví dụ khác:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; けふ　trong cổ văn đọc là　きょう (hôm nay). Đầu tiên đổi hàng e thành hàng i,  tức là けふ　thành きふ. Theo quy tắc bên trên, ta biến đổi tiếp きふ thành  きょふ. Tiếp tục, theo quy tắc は,ひ,ふ,へ,ほ nếu là vĩ ngữ sẽ đọc như  わ,い,う,え,お, ta chuyển tiếp きょふ thành きょう.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Như vậy trong phần này bạn chỉ cần nhớ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 120px;"&gt;「ぢ→じ」&lt;br /&gt;「づ→ず」&lt;br /&gt;「む→ん｣&lt;br /&gt;｢ゐ→い」&lt;br /&gt;「ゑ→え」&lt;br /&gt;「を→お」&lt;br /&gt;「くわ→か」&lt;br /&gt;「ぐわ→が」&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  Trường hợp không đứng đầu cụm từ thì ハ行→ワ行&lt;/span&gt;&lt;div style="font-family: arial;" class="bbcode_container"&gt;&lt;br /&gt;&lt;pre class="bbcode_code" style="height: 192px;"&gt;｢ア段の音＋う（ふ）｣→｢オ段＋う｣&lt;br /&gt;｢イ段の音＋う（ふ）｣→｢イ段＋ゅう｣　&lt;br /&gt;｢エ段の音＋う（ふ）｣→｢イ段＋ょう｣  はぢ→はじ&lt;br /&gt;めづらし→めずらし&lt;br /&gt;かむなづき→かんなづき&lt;br /&gt;ゐなか→いなか&lt;br /&gt;こゑ→こえ&lt;br /&gt;をかし→おかし&lt;br /&gt;くゎかく→かかく&lt;br /&gt;ぐゎん→がん&lt;br /&gt;つはもの→つわもの　いふ→いう　にほひ→におい、など&lt;br /&gt;かうべ→こうべ&lt;br /&gt;きふ→きゅう&lt;br /&gt;てふてふ→ちょうちょう&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Trên đây là những quy tắc khi đọc và  viết cổ văn. Bạn sẽ thấy những từ như 「あはれ」、「悲しひ」 đẹp đẽ biết bao. Trong  khi đó, đọc là チョウシ mà viết là てうし thì cũng hơi lạ, nhưng rồi bạn sẽ  quen thôi. Trong cổ văn, con bươm bướm (ちょうちょう) được viết là てうてう.       &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3712915314786744281?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3712915314786744281/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-ii.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3712915314786744281'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3712915314786744281'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van-ii.html' title='Cổ văn II'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-6683308273145347889</id><published>2011-06-03T00:53:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:26:06.076+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Japanese'/><title type='text'>Cổ văn</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:85%;"&gt;Một trong những cái thú vị nhất của tiếng Nhật là cổ văn.&lt;br /&gt;Nó thay đổi theo từng thời kỳ, từng thời đại những phản ánh đúng tâm hồn   "thuần Nhật" chứ không như thứ tiếng Nhật lai tạp bây giờ.&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style=";font-family:Arial;font-size:85%;"  &gt;&lt;div id="postcontent_19164936"&gt;                     Trích một đoạn trong "Heikei monogatari", viết theo lối quân ký, đọc khá thú vị.&lt;br /&gt;Đây là đoạn đầu của tác phẩm, mấy câu đầu khá nổi tiếng, được phổ thành  thơ và nhạc nhiều, nghệ sĩ ngâm khi chơi đàn Tỳ Bà (Biwa).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 210px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;祇園精舎の鐘の聲、諸行無常の響あり。娑羅雙樹の花の色、盛者必衰のことわりをあらはす。&lt;br /&gt;おごれる人も久しからず、唯春の夜の夢のごとし。たけき者も遂にほろびぬ、偏に風の前の塵に同じ。&lt;br /&gt;遠く異朝をとぶらへば、秦の趙高、漢の王莽、梁の周伊、唐の禄山、是等は皆舊主先皇の政にもしたがはず&lt;br /&gt;、樂みをきはめ、諫をおもひいれず、天下のみだれむ事をさとらずして、民間の愁る所をしらざりしかば、&lt;br /&gt;久からずして亡じし者ども也。近く本朝をうかがふに、承平の將門、天慶の純友、康和の義親、平治の信頼、&lt;br /&gt;此等はおごれる心もたけき事も皆とりどりにこそありしかども、まぢかくは六波羅の入道、&lt;br /&gt;前太政大臣平朝臣清盛公と申し人のありさま、傳へうけたまはるこそ心も詞も及ばれね。&lt;br /&gt;其先祖を尋ぬれば、桓武天皇第五の皇子、一品式部卿葛原親王九代の後胤讃岐守正盛が孫、&lt;br /&gt;刑部卿忠盛朝臣の嫡男なり。彼親王の御子、高親王無官無位にして、うせ給ひぬ。&lt;br /&gt;其御子高望の王の時始めて平の姓を給て、上總介になり給しより、忽に王氏を出て人臣につらなる。&lt;br /&gt;其子鎭守府將軍義茂後には國香とあらたむ。國香より正盛に至る迄、六代は諸國の受領たりし かども、&lt;br /&gt;殿上の仙籍をばいまだゆるされず。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Phân tích đoạn trích trên&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;祇園精舎の鐘の聲、諸行無常の響あり。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Phiên âm:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Gion shōja no kane no koe, shōgyō mujō no hibiki ari" trong đó&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gion (祇園), âm Hán Việt đọc là "Kỳ Viên", đây là tên riêng.&lt;br /&gt;Shōja (精舎). Hán Việt đọc là "tịnh xá". Bạn nào chưa hiểu nghĩa của từ "tịnh xá" thì có thể tra trong từ điển tiếng Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy Gion Shōja ở đây là "tịnh xá Kỳ Viên", nơi đức Phật Thích Ca hay  đến giảng pháp. Không biết trong tiếng Ấn, tên của nó thế nào nhưng  người Hán phiên âm thành 祇園 và người Việt đọc hai chữ này là "Kỳ Viên"  và người Nhật đọc là "Gion".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, &lt;b&gt;Gion shōja no kane no koe&lt;/b&gt; nghĩa là tiếng chuông của tịnh xá Kỳ Viên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;諸行無常, shōgyō mujō, âm Hán Việt đọc là "chư hành vô thường". Nếu không biết ý nghĩa của cụm từ này thì có thể tra Google.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hibiki là tiếng vang, tiếng rền, âm vang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy cả câu đầu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Gion shōja no kane no koe, shōgyō mujō no hibiki ari"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;mang nghĩa là: trong tiếng chuông tịnh xá Kỳ Viên, nghe vẳng âm vang của sự vô thường trong cõi đời.&lt;br /&gt;Một câu mở đầu mang tính chất quyết định cho không những cả tác phẩm mà  còn ảnh hưởng đến cả lối nghĩ, lối sống cũng như văn học nghệ thuật của  nước Nhật nhiều đời sau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_1" src="http://accel21.mettre-put-idata.over-blog.com/1/36/02/09/musique/Biwa_hoshi_Tokyo_Museum.jpg" alt="" class="imageattach" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác phẩm này được viết trong thời Kamakura, thường được các nhà sư mù  đem đi khắp đầu đường ngõ hẻm, vừa gãy đàn Tỳ Bà vừa ngâm ca cho dân  chúng nghe. Ít nhiều gì thì điều này cũng ảnh hưởng tới "vô thường quan"  tiềm tàng ý thức của người Nhật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp theo là câu thứ hai&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;娑羅雙樹の花の色、盛者必衰のことわりをあらはす&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Trong đó,娑羅雙樹 đọc là Sara Sōju, âm Hán Việt đọc là "sa la song  thụ". Sa La là tên một loài cây ở Ấn độ. Sa La song thụ là cây Sa La  đôi, nơi đức Phật Thích Ca nhập diệt.&lt;br /&gt;Như vậy,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;娑羅雙樹の花の色&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt; có nghĩa là màu sắc của hoa trên cây Sa La đôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;盛者必衰&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt; đọc là Jōsha hissui, HV đọc là "thịnh giả tất suy". Kẻ mạnh đến lúc nào đó phải suy, có lúc thịnh phải có lúc suy.&lt;br /&gt;Kotowari nghĩa là định luật, quy luật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;あらはす đọc là Arawasu, chú ý は theo cách đọc lịch sử là "wa" chứ không  phải "ha". Động từ này mang nghĩa là "diễn đạt", "biểu hiện".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;盛者必衰のことわりをあらはす , vế này có nghĩa là "thể hiện quy luật thịnh giả tất suy".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, toàn bộ ý nghĩa của câu thứ hai có thể hiểu là&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Màu sắc hoa  cây Sa La đôi cũng cho thấy, biểu hiện quy luật của cuộc đời rằng có lên voi rồi sẽ có lúc xuống chó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;たけき者も遂にほろびぬ、偏に風の前の塵に同じ。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;"Takeki hito mo tsui ni horobinu, hitoe ni kaze no mae no chiri ni onaji"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Takeki hito: kẻ dũng mãnh, người quả cảm (chiến binh), đây là từ cổ. Các  danh từ "take" và "takeshi" trong tiếng Nhật đều có nguồn gốc từ chữ  "võ" (trong võ biền, võ thuật) mà ra.&lt;br /&gt;Takeki mono ở đây là chỉ họ Minamoto trong cuộc phân tranh với họ Taira.  Họ Minamoto có người đứng đầu là Yoritomo, ông tổ của chế độ Mạc Phủ,  mở đầu thời kỳ các võ sĩ cai trị Nhật Bản. Có thể nói rằng Yoritomo  chính là người khai mào cho dòng chảy lịch sử đề cao tinh thần thượng võ  trong tính quốc dân của dân Nhật.&lt;br /&gt;Ngoài ra, họ Minamoto còn có Yositsune và ông hầu Benkei cũng được xem là thần võ nghệ, đại diện cho giai cấp chiến binh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tsui ni:  phó từ diễn tả ý "cuối cùng thì..."&lt;br /&gt;Horobinu: hình thái cổ của động từ "horobiru": tuyệt diệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;たけき者も遂にほろびぬ&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: kẻ võ biền dũng mãnh cuối cùng cũng tuyệt diệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;偏に風の前の塵に同じ&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: cũng giống như câu trên, vế này cũng có thể hiểu dễ dàng bằng ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại: chỉ giống như hạt bụi trước gió.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 66px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;おごれる人も久しからず、唯春の夜の夢のごとし。&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;たけき者も遂にほろびぬ、偏に風の前の塵に同じ。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Hai câu này kết thúc phần mở đầu của Heike Monogatari và cũng là  hai câu chốt toàn bộ nội dung của tác phẩm. Qua đây có thể thấy rõ tinh  thần "vô thường quan" trong truyện Heike. Bằng việc mô tả cuộc chiến  giữa hai họ Minamoto và Taira, tác giả (khuyết danh) đã nói lên lẽ vô  thường của cuộc đời: có đó bỗng chốc hóa không. Kẻ quyền thế hôm nay thì  mai đã thân bại danh liệt, kẻ hùng mạnh hôm trước hôm sau đã tan tành  thân xác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Download&lt;/b&gt; đoạn ngâm thơ phần mở đầu của truyện Heike, do Uehara Mari diễn ngâm với đàn Tỳ Bà&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.mediafire.com/?meykt22jmqi" target="_blank"&gt;http://www.mediafire.com/?meykt22jmqi&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;遠く異朝をとぶらへば&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;b&gt;Tooku ichō wo toboraeba&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;ichō: âm Hán Việt đọc là "dị triều", tức là triều đình ngoại quốc. Nghĩa  rộng của từ này chỉ các nước bên ngoài Nhật Bản, nghĩa hẹp chỉ nước  Tàu. Vì ngày xưa Nhật Bản chỉ giao du với Trung Hoa nên khái niệm "ngoại  quốc" đồng nghĩa với nước Tàu. Từ đối nghĩa với "ichō" là "honchō" (本朝,  bản triều, chỉ triều đình Nhật, tức nước Nhật).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Động từ　"Toburau" (訪ふ, cách biểu ký lịch sử là とぶらふ nhưng không đọc là  "toburafu" như cách đọc đương đại mà đọc là "toburau") mang nghĩa là  thăm viếng, dò tìm, hỏi thăm.&lt;br /&gt;Như vậy, vế&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;遠く異朝をとぶらへば&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;có nghĩa là: nếu dò tìm (gương xưa, ví dụ) ở nước Tàu xa xôi (thì thấy)...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;秦の趙高、漢の王莽、梁の周伊、唐の禄山&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Shin no Chōkō, Kan no Ōmō, Ryō no Shūi, Tō no Rokuzan.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây đều là các danh từ riêng: Triệu Cao (Chōkō) nước Tần (Shin), Vương  Mãn (Ōmō) thời Hán (Kan), Chu Y (Shūi) nước Lương (Ryō) và Lộc Sơn  (Rokuzan) thời Đường (Tō): đây đều là các gương gian thần nghịch tặc bên  Tàu ngày xưa. Các bạn có thể tra Google để hiểu rõ hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;是等は皆、旧主先皇の政にもしたがはず&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Kore ra wa mina, kyūshu senkō no matsurigoto nimo sitagawazu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;是等 (korera): bọn này, những thứ này, chỉ đám người liệt kê ở trên&lt;br /&gt;Mina: toàn bộ, hết tất cả&lt;br /&gt;kyūshu senkō: cựu chủ tiên Hoàng: chủ cũ và vua đời trước&lt;br /&gt;政 (matsurigoto): chính trị&lt;br /&gt;従う (sitagau): động từ, nghĩa là tuân theo. Thể phủ định là sitagawanai  (sitagawazu), tuy nhiên, về mặt biểu ký lịch sử thì ghi là 従はず  chứ  không ghi　従わず như trong tiếng Nhật hiện đại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy cả vế này có nghĩa là: những kẻ này thảy đều không tuân theo nền chính trị của các tiên vương, chúa (chủ) của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 50px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;楽みをきはめ、諫をも&lt;br /&gt;おもひいれず、天下のみだれむ事をさとらずして&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Tanoshimi wo kiwame, isame womo omoiirezu, tenga no midaremu koto wo satorazu site&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tanoshimi: hiểu như hiểu từ này trong tiếng Nhật đương đại: niềm vui, khoái lạc&lt;br /&gt;Kiwame ̣̣̣̣́(không đọc là Kihame như tiếng Nhật hiện đại): cùng cực, đi đến chỗ cùng cực&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;楽みをきはめ&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: suốt ngày ăn chơi, cực đỉnh của chơi bời&lt;br /&gt;Isame: sự can gián, lời can gián&lt;br /&gt;Omoiirezu (thể phủ định, không đọc là Omohi irezu như tiếng Nhật hiện đại): không để tâm đến&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;楽みをきはめ、諫をもおもひいれず&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: ra sức chơi bời, không nghe theo lời can gián&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tenga: thiên hạ&lt;br /&gt;Midaremu: hình thái cổ của động từ midareru: rối ren, loạn lạc&lt;br /&gt;Satoru: hay biết&lt;br /&gt;Satorazu: không hay biết&lt;br /&gt;Satorazu site : liên ngữ site đi sau từ phủ định "zu" mang ý "nakute"　（なくて）　hay "shinaide" （しないで） như trong tiếng Nhật hiện đại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;天下のみだれむ事をさとらずして&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: chẳng hay biết gì đến sự loạn lạc của thiên hạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 50px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;民間の愁る所を&lt;br /&gt;しらざしかば、久しからずして、亡じにし者ども也。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;Minkan no ureuru tokoro wo shiraza shikaba, hisashikarazu site, bōji nishi monodomo nari&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;民間&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: dân gian, trăm họ, bá tánh&lt;br /&gt;愁る: điều lo buồn, sự lo lắng&lt;br /&gt;Shirazaru: thể phủ định của shiru (biết). Shirazaru nghĩa là không biết.&lt;br /&gt;Trợ từ "ba" đi chung với "shika" diễn đạt ý: chính vì (～たので)&lt;br /&gt;Shirazashikaba: chính vì không biết (điều nói trước đó) nên mới...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hisashikarazu site: (đã nói bên trên)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 34px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;亡じにし者ども也&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;: trở thành những kẻ diệt vong, vong mạng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trợ từ "nari" đứng cuối câu thường diễn tả ý khẳng định: dearu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy cả cụm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 5px 20px 20px;"&gt;  &lt;div class="smallfont" style="margin-bottom: 2px;"&gt;Mã:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="alt2" dir="ltr" style="margin: 0px; padding: 6px; border: 1px inset; width: 640px; height: 82px; text-align: left; overflow: auto;"&gt;遠く異朝をとぶらへば、秦の趙高、漢の王莽、梁の周伊、唐の禄山、&lt;br /&gt;是等は皆、旧主先皇の政にもしたがはず、楽みをきはめ、諫をも&lt;br /&gt;おもひいれず、天下のみだれむ事をさとらずして、民間の愁る所を&lt;br /&gt;しらざしかば、久しからずして、亡じにし者ども也。&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;mang nghĩa là:&lt;br /&gt;nếu tìm ví dụ ở nước Tàu xa xôi thì thấy có gương Triệu Cao nhà Tần,  Vương Mãn nhà Hán, Chu Y nước Lương và (An) Lộc Sơn nhà Đường. Thảy bọn  này đều không tuân theo nền chính trị của cựu chủ tiên hoàng, ăn chơi  đọa lạc, không nghe theo lời can gián, chẳng biết thiên hạ đang rối ren,  chẳng điếm xỉa gì đến nỗi lo của bá tánh nên đều trở thành những kẻ  vong mạng, chẳng tồn tại lâu được.                     &lt;/div&gt;                                                           &lt;/span&gt;                       &lt;p style="font-family: arial;" align="right"&gt;&lt;img src="http://ttvnol.com/images/muare/icon_posticon.gif" border="0" /&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-6683308273145347889?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/6683308273145347889/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6683308273145347889'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/6683308273145347889'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/06/co-van.html' title='Cổ văn'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3760176509745553461</id><published>2011-05-04T01:59:00.003+09:00</published><updated>2012-01-11T22:52:02.340+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bugei'/><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;"&lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;Gekitotsu! Satsujinken&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;" (激突! 殺人拳, tạm dịch là "kích đột! Sát  nhân quyền) là một bộ phim võ thuật, xã hội đen do hãng Tōei Nhật Bản  chế tác, được công chiếu vào ngày mùng 2 tháng 2 năm 1974. Sự thành công  của nó dẫn đến sự ra đời của hai tập phim tiếp theo "Gekitotsu!  Satsujinken 2" và "Gyakushū! Satsujinken".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Đây là bộ phim tiếp theo trong series phim Karate "Body Guard Kiba" do nam tài tử &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;Chiba Shin-ichi&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;  thủ diễn. "Gekitotsu! Satsujinken" là bộ phim hâm nóng lại làn sóng  phim về đề tài xã hội đen (Yakuza) của hãng Tōei sau một thời gian nguội  lạnh.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Hãng phim New Line Cinema (Mỹ) đã mua lại bản quyền phim này và trình  chiếu tại Mỹ quốc dưới cái tên "The Street Fighter" vào tháng 11 năm  1974. Nó đã nhanh chóng chiếm được tình cảm của khán giả Mỹ và đẩy lùi  các đại tác được trình chiếu đồng thời khác như "Airport 1975", "The  Odessa File" và "Le Petit Prince". "Gekitotsu! Satsujinken" lọt vào top 5  phim hay nhất nước Mỹ trong 3 tuần liền và trở thành một tác phẩm tiêu  biểu cho nam tài tử Chiba Shin-ichi. Đây còn là bộ phim Nhật đầu tiên  được tạp chí Variety ca ngợi.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Hãng New Line Cinema đã đặt tên cho diễn viên Chiba Shin-ichi là Sonny  Chiba, và kể từ đó cái tên này trở nên nổi như cồn ở khắp nơi trên Thế  giới.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Hậu trường&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; "Gekitotsu! Satsujinken" là bộ phim lột tả được hết chất tàn khốc của  Karate qua diễn xuất của Chiba Shin-ichi. Phim có sự hợp tác của  Yamaguchi Gōgen, người sáng lập phái Karate Gōjū và Suzuki Masafumi,  quán trưởng của Seibukan (Chánh võ quán) và cũng là hội trưởng liên đoàn  Karate cương toàn quốc Nhật Bản. Vì vậy, trong phim có những cảnh Kata  của phái Karate Gōjū. Vai diễn Shikenbaru, kẻ thù của Chiba trong phim  do Ishibashi Masashi đảm nhiệm. Ngoài đời, Masashi là sư huynh của Chiba  Shin-ichi ở võ đường Karate Kyokushin.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Hãng New Line Cinema đánh giá khả năng diễn xuất võ thuật của Chiba  Shin-ichi qua phim này cao hơn Lý Tiểu Long đương thời. Bộ phim đã gây  sóng gió ở 18 rạp chiếu các địa phương Nam trung bộ nước Mỹ. Các công ty  điện ảnh châu Âu, Úc cũng đổ xô đi mua bản quyền của phim này. Lý do  thành công của nó là "mang tính kỹ thuật và sức mạnh, sát với Karate  thực tế chứ không mang tính nhảy múa như Kungfu Lý Tiểu Long", "biết lợi  dụng các kỹ thuật của thể dục dụng cụ mang tính uyển chuyển cao".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; "Gekitotsu! Satsujinken" được công chiếu tại Mỹ với cái tên "The Street  Fighter" và nhanh chóng được liệt vào hạng X vì những cảnh bạo lực,  trong đó có cảnh nhân vật chính Tsurugi Takuma dùng tay không xé lìa bộ  phận sinh dục của đối thủ. Sau đó, 16 phút phim được biên tập để phù hợp  với hạng R. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Trong phiên bản lồng tiếng Anh, nhân vật Tsurugi Takuma được gọi là  Terry Sugury trong phần corangeit, nhưng các diễn viên lồng tiếng lại  phát âm là Terry Tsurugi. Đối thủ chính của Tsurugi trong phiên bản Nhật  ngữ là Shikenbaru Tateki cũng "bị dịch" nhầm thành Junjō trong bản  tiếng Anh.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Staff &amp;amp; Cast&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Đạo diễn: Ozawa Shigehiro&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Kịch bản: Takada Kōji, Torii Motohiro&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Chiba Shin-ichi (vai Tsurugi Takuma)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Nakajima Yutaka (vai Sarai)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Shihomi Etsuko (vai Shikenbaru Nachi)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Yamada Goichi (vai Rakuda)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Suzuki Masafumi (vai Masaoka Kendō)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; + Ishibashi Masashi (vai Shikenbaru Tateki)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tsurugi Takuma là một cao thủ Karate và cũng là một kẻ giết mướn chuyên  nghiệp. Một ngày nọ, Takuma được Ngũ Long Hội, tổ chức Mafia Cực Đông  đến ủy lại việc bắt cóc con gái của ông vua dầu hỏa vừa mới qua đời.  Biết được âm mưu đằng sau vụ này, Takuma đã từ chối và bị cuốn vào vòng  chiến...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Download&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (dùng hjsplit để nối các phần lại với nhau)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.mediafire.com/?caswr2wikw3lh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/GekitotsuSatsujinkenavi_000181160.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/GekitotsuSatsujinkenavi_000178400.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/GekitotsuSatsujinkenavi_000940640.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/GekitotsuSatsujinkenavi_004175280.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3760176509745553461?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3760176509745553461/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/05/gekitotsu-satsujinken-tam-dich-la-kich.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3760176509745553461'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3760176509745553461'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/05/gekitotsu-satsujinken-tam-dich-la-kich.html' title=''/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7880228942195732056</id><published>2011-05-04T00:19:00.002+09:00</published><updated>2012-01-11T22:51:44.016+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Actors'/><title type='text'>千葉 真一 Chiba Shin-ichi</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" class="content"&gt;    &lt;div id="post_message_5761896"&gt;     &lt;blockquote class="postcontent restore"&gt;      &lt;b&gt;Chiba Shin-ichi&lt;/b&gt; (千葉 真一, đừng đọc thành Shi-nichi nha) là một  nam diễn viên, ca sĩ kiêm đạo diễn điện ảnh và cũng là một Karateka  người Nhật Bản. Ông ra đời ngày 22 tháng 1 năm Shōwa thứ 14 (1939) tại  tỉnh Fukuoka. Tên thật của ông là Maeda Sadaho (前田 禎穂), được người  phương Tây biết đến với cái tên JJ Sonny Chiba hay đơn giản là Sonny  Chiba. Người Nhật gọi ông bằng cái tên thân mật là Chiba chan.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/398px-Sonny_Chiba.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Sonny Chiba tại liên hoan phim Hawaii vào tháng 10 năm 2005&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiba Shin-ichi là một trong những ngôi sao sáng đại diện cho nền điện  ảnh Nhật Bản, được cả thế giới biết đến với cái tên Sonny Chiba qua  những bộ phim võ thuật và thế giới ngầm vào thập niên 70 của thế kỷ 20.  Ông là cao thủ tứ đẳng của phái Kyokushin Karate, nhị đẳng quyền pháp  Thiếu Lâm. Ngoài ra ông còn tinh thông nhiều môn võ nghệ và thể thao  khác như cưỡi ngựa, trượt tuyết. Chính vì vậy, ông đã chinh phục được  khán giả bằng những màn trình diễn hành động táo bạo và rất thực. Chiba  Shin-ichi được xem là ông tổ của diễn viên hành động Nhật Bản, là chủ  tịch đầu tiên của JAC (Japan Action Club), cái nôi đào tạo nên nhiều  diễn viên hành động gạo cội của Nhật Bản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Lai lịch&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hướng đến Olympic&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiba Shin-ichi ra đời trong một gia đình gồm hai con trai và ba con gái  ở tỉnh Fukuoka. Cha ông là một quân nhân trong chiến đội phi hành thuộc  lục quân ở phố Tachi Arai, còn mẹ ông xuất thân từ tỉnh Kumamoto và là  vận động viên điền kinh thời còn đi học. Năm lên 4 tuổi, cha ông chuyển  công tác sang thành phố Kisarazu tỉnh Chiba, từ đó gia đình ông chuyển  sang ở thành phố Kimizu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi lên trung học, giáo viên thể dục khuyên ông nên theo con đường thể  dục dụng cụ nhưng rốt cuộc Chiba lại tham gia vào điền kinh, bóng chuyền  và dã cầu. Chỉ khi bước chân vào trường cấp ba Kisarazu thì ông mới  chuyên tâm vào thể dục dụng cụ, trong năm đầu ông đã đoạt giải nhì trong  hội thi toàn quốc, đến năm thứ ba thì đoạt giải nhất trong đại hội toàn  quốc. Mặt khác, thời còn là học sinh, Chiba cũng rất say mê những phim  Cao Bồi Mỹ như Shane của Alan Ladd, High Noon của Gary Cooper.&lt;br /&gt;Năm Shōwa thứ 32 (1957), Chiba nhập Đại học thể dục thể thao Nhật Bản  với giấc mộng được tham dự Olympic nên đã trải qua những ngày tháng miệt  mài luyện tập không ngừng nghỉ. Để có tiền chi trả học phí, Chiba còn  làm thêm những nghề như phụ hồ (phụ xây) vốn lương cao nhưng nặng nhọc.  Vì làm việc quá nặng nhọc nên đến cuối năm thứ hai Đại học thì mắc chứng  đau lưng, chỉ cần ngừng tập một tuần cũng thấy rõ sự khác biệt với  trước kia. Đương thời, Chiba bị bác sĩ "tuyên án" cấm vận động trong một  năm. Con đường trở thành tuyển thủ Olympic lại càng khó khăn hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/GekitotsuSatsujinkenavi_001396400.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Sonny Chiba trong phim Gekitotsu! Satsujinken năm 1974&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chàng trai trẻ Chiba bắt đầu tìm kiếm tương lai, trên đường trở về  nhà thì tình cờ bắt gặp tấm poster tuyển khuôn mặt diễn viên mới lần thứ  6 của hãng phim Tōei tại ga Yoyogi thuộc quận Shibuya. Khi trở về nhà,  Chiba bàn chuyện này với người bạn thân và được tán thành nên đến ra mắt  Tōei. Đương thời, người xuất thân từ Đại học thể dục thể thao là rất  hiếm nhưng Chiba đã lập thành tích đứng đầu, vượt qua 26 nghìn thí sinh  khác đổ về ứng thí. Tuy nhiên, cha ông kịch liệt phản đối việc con trai  tham gia vào làng giải trí và vì việc này mà đã từ con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Diễn viên hành động&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Shōwa thứ 34 (1959), Chiba bỏ dở việc học Đại học để gia nhập hãng  phim Tōei. Đồng thời kỳ có 14 nữ, 6 nam khác, trong đó các diễn viên nổi  tiếng như Kameishi Seiichirō, Taichi Kiwako, Kayashima Narumi và Arai  Shigeko.&lt;br /&gt;Sau khi gia nhập hãng phim Tōei, Chiba trải qua 6 tháng nghiên cứu tại  kịch đoàn Haiyūza, đến tháng 1 năm Shōwa thứ 35 (1960) thì xuất hiện lần  đầu tiên trong bộ phim truyền hình "Mặt nạ bảy màu" (Nanairo Kamen)  trong vai nhân vật chính Ran Kōtarō đời thứ hai. Sau đó, Chiba cũng tham  gia diễn xuất trong bộ phim truyền hình "Sứ giả Allah". Sau lần debut  này, Chiba đều không dựa vào các diễn viên đóng thế mà đều tự mình diễn  trong những cảnh hành động, đấu võ. Lúc này Tōei mới bắt đầu tìm kiếm  chất hành động của Chiba trong phim. Đây cũng là thời kỳ cha ông giải  tỏa mối bất hòa với con trai mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/ShogunsSamuraiTheYagyuClanConspiracy1978CD2DVDRipXviD-SAPHiREavi_003236277.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Chiba trong vai Yagyū Jūbei, phim Yagyū Ichizoku no Inbō năm 1978&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1961, Chiba tham gia vào bộ phim hình sự"Keishichō Monogatari Fuzai  Aribai" về điều tra tội phạm, ngay sau đó liền tham gia vào bộ phim đầu  tay của đạo diễn gạo cội Fukasaku Kinji. Cùng năm, ông còn tham gia vào  loạt phim Tokusatsu "Uchū Kaisokusen" và những phim hành động khác có  nhiều cảnh đấu võ, rượt đuổi. Năm 1962, sau khi tham gia vai chính trong  các phim thể loại Suspense thì Chiba còn tham gia các vai phụ bên cạnh  các diễn viên có tiếng đương thời như Takakura Ken, Tamba Tetsurō và  Mita Yoshiko trong các bộ phim xã hội đen.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1966, Chiba tham gia đóng vai chính trong bộ phim hợp tác giữa Nhật  và Đài Loan là "Kamikaze Yarō Maruhi no Kettō" (tên Hán là Bạch Nhật Chi  Ngân Dực). Phim này được quay ở Đài Loan, trong phim có cảnh Chiba nhảy  lên một chiếc may bay đang cất cánh và nhiều cảnh hành động gây cấn  khác. Thời gian này, Chiba còn tham gia đóng nhiều phim khoa học giả  tưởng như "Chiến tranh dưới đáy biển" (Kaitei Daisensō), các phim có đề  tài tình báo, Yakuza, sĩ quan.&lt;br /&gt;Năm 1968, Chiba tham gia vai chính trong loạt phim truyền hình "Key  Hunter" và nhanh chóng chiếm được tình cảm của khán giả cả nước bằng  những pha siêu hành động trước đây chưa từng thấy. Từ đó, làn sóng Chiba  Shin-ichi nhanh chóng lan rộng, ông được dân chúng gọi bằng cái tên  thân mật là Chiba chan và trở thành một Idol mang tính quốc dân. Vì được  dân chúng yêu thích như vậy nên loạt phim này được phát sóng liên tục  trong 5 năm với tỷ lệ xem trên 30%. Trong phim có những cảnh hành động  nguy hiểm như nhảy từ trên mui xe lửa đang chạy xuống đánh nhau với đối  thủ, lái xe xong xong với chiếc máy bay đang chạy và lao thẳng lên máy  bay. Có lần Chiba cũng bị thương khi diễn những cảnh này.&lt;br /&gt;Những phim do Chiba Shin-ichi đóng cũng được phát sóng bên ngoài Nhật  Bản và thu hút được sự chú ý của nhiều người. Đương thời, Lý Tiểu Long  (Bruce Lee) cũng rất hứng thú với hoạt động diễn xuất của Chiba và đã  gửi đề nghị cộng diễn với Chiba, nhưng không may bất ngờ qua đời sớm nên  điều này đã không trở thành hiện thực. Ngôi sao võ thuật Thành Long  (Jackie Chan) thời chưa thành danh cũng từng mơ ước trở thành ngôi sao  hành động như Chiba và chịu nhiều ảnh hưởng từ lối diễn hành động của  Chiba. Thành Long là một fan to của Chiba Shin-ichi, khi đã nổi danh như  một ngôi sao thì có tìm đến bộ phận quay phim của hãng Tōei ở Kyōto để  bày tỏ kính ý đối với Chiba.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/MakaiTenshouSonnyChiba1981avi_006927344.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Chiba trong vai Yagyū Jūbei, phim Makai Tenshō năm 1981&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1969, Chiba đóng vai chính trong bộ phim "Nihon Ansatsu Hiroku"  (Nhật Bản ám sát bí lục), một bộ phim quy tụ hầu hết các ngôi sao màn  bạc đương thời. Quay phim này, Chiba nhận được giải thưởng diễn xuất hay  nhất và bản thân bộ phim cũng nhận được nhiều giải thưởng khác.&lt;br /&gt;Năm 1970, vì bất mãn với thực lực không đủ của các bạn diễn và diễn viên  đóng thế trong các cảnh quay hành động, đấu võ nên Chiba quyết tâm xây  dựng một trường đào tạo hành động cho các diễn viên trẻ. Trường này có  tên Japan Action Club (JAC), sau đổi thành Japan Action Enterprise và là  nơi đào tạo nên rất nhiều diễn viên hành động có tiếng, trong đó có  Haruta Jun-ichi, Ōba Kenji, Shihomi Etsuko, Sanada Hiroyuki, Kurosaki  Hikaru,...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/Kagenogundanflv_000097722.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Chiba trong phim Kage no Gundan, 1980&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sonny Chiba&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1973, bắt đầu với loạt phim "Body Guard Kiba", sau đó Chiba tham gia  vào các loạt phim võ thuật, xã hội đen như "Gekitotsu! Satsujinken",  "Chokugeki! Jigokuken", "Shōrinji Kempō", "Kenka Karate Kyokushinken",  "Karate Baka Ichidai".... Qua những loạt phim này, Chiba nhanh chóng  chiếm được tình cảm của người xem bằng những đòn đánh uy lực, đầy tính  chân thật của võ thuật thực chiến.&lt;br /&gt;Năm 1974, loạt phim "Gekitotsu! Satsujinken" ra đời đã hâm nóng lại làn  sóng phim xã hội đen của hãng Tōei vốn đã nguội lạnh bấy lâu. Các công  ty điện ảnh Mỹ, châu Âu, Úc và Canada cũng đổ xô mua bản quyền của loạt  phim này để trình chiếu ở nước họ. Trong đó, New Line Cinema Mỹ quốc có  nhận xét rằng đây là một tác phẩm tuyệt vời, phần hành động của Chiba  còn hơn cả Lý Tiểu Long. Hãng này mua bản quyền của "Gekitotsu!  Satsujinken" và đổi tên thành "The Street Fighter", đặt tên cho Chiba  Shin-ichi là Sonny Chiba. Và cũng bắt đầu từ đó, cái tên Sonny Chiba  được khắp nơi trên Thế giới biết đến.&lt;br /&gt;Bộ phim này được trình chiếu ở 18 rạp chiếu khắp nơi ở vùng trung nam  nước Mỹ từ tháng 11 năm 1974 và trở thành tác phẩm đại biểu của Sonny  Chiba, liên tục chiếm vị trí Best 5 trong 3 tuần liền.Tạp chí tổng hợp  uy tín nhất nước Mỹ là Variety cũng đăng tải chuyện này trong số báo  ngày 18 tháng 12, cho rằng đây là bộ phim Nhật Bản đầu tiên gặt hái  nhiều thành công tại Mỹ. Báo phân tích nguyên nhân thành công của phim  là ở phần diễn xuất, khác với công phu (Kungfu) của Lý Tiểu Long mang  nhiều tính nhảy múa, những cảnh đấu võ của Chiba mang đầy tính kỹ thuật  và lực, rất gần với thực tế và việc lợi dụng những cảnh mang tính thể  dụng dụng cụ cũng là một chất xúc tác để phần hành động mượt mà hơn.&lt;br /&gt;Bộ phim "Chokugeki! Jigokuken" là sự kết hợp giữa Mafia và những màn  trình diễn đầy tốc độ của Chiba trong vai một hậu duệ của Ninja, nó đã  mang về cho hãng Tōei 4 tỷ 1700 vạn en trong năm 1974. Cùng năm, nó được  xếp hạng 5 trong số những phim Nhật đạt doanh thu cao nhất. Phim này  được công chiếu tại Mỹ với cái tên "The Executioner" và bán được hơn 10  vạn bản video từ năm 1999 đến nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/KarateBullfighter1975DVDRipXviD-QiXavi_001954579.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Chiba trong vai Ōyama Masutatsu, phim Kenka Karate Kyokushinken, 1977&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu trước đây, khán giả Mỹ quốc có ấn tượng Lý Tiểu Long = Karate thì  sau này lại có ấn tượng Sonny Chiba = Karate. Chiba đã gây ảnh hưởng  đáng kể đối với một số diễn viên, đạo diễn Mỹ quốc và các nước phương  Tây. Trong số những người hâm mộ Sonny Chiba cuồng nhiệt, có những người  nổi tiếng như Samuel Leroy Jackson, Quentin Tarantino. Jackson lần đầu  gặp Chiba đã đứng yên bất động, nài nỉ xin chữ ký. Quentin cũng đã áp  dụng phong cách chiến đấu bạo liệt của Chiba vào trong bộ phim đình đám  của ông là "Kill Bill". Trong phim còn có cảnh nhân vật chính đang xem  "Gekitotsu! Satsujinken" trong rạp.&lt;br /&gt;Khi nhận được nhiều khen ngợi từ hải ngoại, Chiba được giám đốc hãng  Tōei là Okada Shigeru khuyên hãy tiến thân ra hải ngoại, nhưng lúc đó  Chiba đã từ chối "bây giờ chưa phải lúc" và quyết định ở lại Nhật Bản  đóng thêm nhiều phim và đào tạo thế hệ trẻ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đóng nhiều thể loại&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Chiba Shin-ichi đã trở thành một ngôi sao hành động tiêu biểu của Nhật  Bản, nhưng đến năm 1978 thì Chiba bắt đầu tiến sâu vào lãnh vực phim  "kiếm hiệp" cổ trang (Jidaigeki) và để lại nhiều dấu ấn cho thể loại  này. Trong phim "Yagyū Ichizoku no Inbō" có cảnh Chiba lao xuống từ bờ  vực cao hơn 30m. Nhờ những cảnh hành động táo bạo như vậy mà Chiba nhận  được giải nam diễn viên ưu tú của phim trong giải thưởng Academy Nhật  Bản.&lt;br /&gt;Những phim Jidaigeki mà Chiba từng đóng đều là những kiệt tác không thể  nào quên trong lòng người dân Nhật Bản. Trong đó có thể kể đến "Chuyển  sanh ma giới" (Makai Tenshō), "47 võ sĩ" (Akōjō Danzetsu), "Satomi  Hakkenden", "Shōgun Iemitsu no Ranshin Gekitotsu"... Qua những bộ phim  như "Yagyū Ichizoku no Inbō", "Makai Tenshō", "Yagyū Abaretabi", người  xem đã quen với hình tượng Chiba trong vai kiếm khách Yagyū Jūbei một  mắt. Đối với người xem, hễ nhắc đến Yagyū Jūbei là nhắc đến Sonny Chiba.  Ngoài ra, Chiba còn gặt hái được nhiều thành công, để lại nhiều ấn  tượng mạnh trong vai Ninja Hattori Hanzō qua loạt phim truyền hình "Kage  no Gundan" (binh đoàn bóng tối). Do một thời gian dài đóng vai kiếm  khách Yagyū Jūbei, Chiba phải che một mắt trái và vận dụng mắt phải quá  nhiều dẫn đến mất thị lực và phải gắn tròng nhân tạo.&lt;br /&gt;Năm 1979, trong bộ phim kỷ niệm 20 năm ngày vào làng giải trí là  "Sengoku Jieitai" (đội tự vệ Chiến quốc), lần đầu tiên Chiba xuất hiện  trong vai trò vừa là diễn viên chính vừa là đạo diễn. Trong phim có  những góc quay táo bạo như treo lơ lửng từ trực thăng để quay đã khiến  cả đoàn phải lo lắng, nhưng những cảnh này đã được đánh giá tốt và nhận  được giải Blue Ribbon năm 1980.&lt;br /&gt;Năm 1981, ông diễn vai chính trong bộ phim "Bōkensha Kamikaze". Khác với  các vai diễn xã hội đen, kiếm khách hay Ninja vốn đã trở thành sở  trường của Chiba, trong phim này Chiba vào vai một sinh viên Đại học  sống không có mục đích, sau đó còn tham gia diễn xuất trong một số phim  đề tài gia đình khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tiến ra Thế giới&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Năm 1980, Chiba Shin-ichi tham gia diễn xuất trong một bộ phim hợp tác  giữa Anh-Mỹ là "Bushidō Blade", tuy nhiên vẫn chưa chính thức tiến ra  hải ngoại khiến nhiều người nghĩ Chiba đã từ bỏ ý định này. Nhưng đến  khoảng 1990 thì lại có nhiều đề cử diễn xuất từ các hãng phim Mỹ. Cùng  thời điểm đó, tại Los Angeles cũng chiếu lại 14 bộ phim Karate của Chiba  như "Gekitotsu! Satsujinken" và "Kozure Satsujinken".&lt;br /&gt;Năm 1991, Chiba bán lại Japan Action Club cho Nikkō Edo Mura, sau đó  tham gia bộ phim Mỹ "Aces: Iron Age III" và từ đó quyết định chuyển cứ  điểm sang Los Angeles, bắt đầu hoạt động diễn xuất tại Mỹ quốc.&lt;br /&gt;Năm 1998, Chiba tham gia đóng vai trùm cuối Hùng Bá trong bộ phim "Phong  Vân Storm Riders Hùng Bá Thiên Hạ" do Hương Cảng sản xuất. Vai diễn này  đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng người xem và Chiba được đề cử giải  nam diễn viên ưu tú trong Hương Cảng điện ảnh kim tượng tưởng lần thứ  18. Đến năm 2001, bộ phim được Đài Loan dựng lại thành phim truyền hình.&lt;br /&gt;Năm 2003, Chiba tham gia một vai phụ trong bộ phim "Kill Bill" của đạo  diễn Quentin Tarantino và được đề cử nam diễn viên phụ xuất sắc trong  giải Saturn lần thứ 30.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://i1143.photobucket.com/albums/n638/ASM65816/MasterofThunderdivxavi_003320711.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color:blue;"&gt;Chiba trong phim Master of Thunder, 2006&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;Karate&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi gia nhập hãng phim Tōei, Chiba được một người Hàn Quốc quen  biết với Ōyama Masutatsu giới thiệu đến võ đường Ōyama (sau này là  Kyokushin Kaikan) và trở thành môn nhân của võ đường này. Trong các bộ  phim Karate, vai địch thủ của Chiba thường được giao cho Ishibashi  Masashi, đây cũng là một tiền bối của Chiba trong phái Kyokushin Karate.&lt;br /&gt;Sau khi gia nhập hãng phim, Chiba cũng không được đẳng danh dự mà vẫn  phải thi lên đai lên đẳng như các môn sinh khác. Tháng 10 năm 1965,  Chiba đoạt đai đen, đến tháng 2 năm 1977 vượt lên tam đẳng, đến tháng 1  năm 1984 thì đoạt tứ đẳng.&lt;br /&gt;Tháng 4 năm 1977, tại Hawaii có tổ chức giải đấu Karate Full Contact  (đánh không kiên cử) và Chiba cùng với Azuma Takashi, Nakamura Makoto là  đại diện của đoàn Nhật Bản thi đấu với đoàn Hawaii. Đối thủ của Chiba  là Greg Kauffman, võ sĩ vô địch Karate dãi bờ biển phía Đông nước Mỹ.  Trong trận này Chiba đã tích cực tấn công với những đòn đá xoay sở  trường, kết quả là thắng KO ở hiệp hai bằng nhị đoạn cước.&lt;br /&gt;Đại sư Ōyama Masutatsu cũng có kể về việc này trong cuốn "Waga Karate  Kakumei" (cuộc cách mạng Karate của tôi) rằng: "tôi nghe nói những phim  Karate của Chiba Shin-ichi rất thịnh hành tại Mỹ, và giới chuyên môn  nhận xét rằng Karate của Chiba chính là Karate thật. Điều này là đương  nhiên, và cậu ấy đã thể hiện thực lực của mình trong trận đấu này thật  tuyệt vời".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:orange;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;Những phim chủ yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;1961&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tham khảo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://ja.wikipedia.org/wiki/JJ%E3%82%B5%E3%83%8B%E3%83%BC%E5%8D%83%E8%91%89#.E5.87.BA.E6.BC.94" target="_blank"&gt;http://ja.wikipedia.org/wiki/JJ%E3%8...87.BA.E6.BC.94&lt;/a&gt;     &lt;/blockquote&gt;    &lt;/div&gt;          &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7880228942195732056?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7880228942195732056/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/05/chiba-shin-ichi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7880228942195732056'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7880228942195732056'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2011/05/chiba-shin-ichi.html' title='千葉 真一 Chiba Shin-ichi'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-8057887622085294885</id><published>2010-10-06T04:37:00.000+09:00</published><updated>2010-10-06T04:38:50.785+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Kozure Ōkami the Movie (2)</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kozure Ōkami Meifumadō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (子連れ狼 冥府魔道, tạm dịch là "Sói mang con, Minh phủ ma đạo") là một tác phẩm Jidaigeki Nhật Bản do Katsu Production chế tác vào tháng 8 năm 1973 và đồng thời là tác phẩm thứ 5 trong series Kozure Ōkamiđược dựng từ Manga cùng tên do nam tài tử &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Wakayama Tomisaburō&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; thủ vai chính. Cũng từ tháng 4 năm này, mạng lưới truyền hình Nhật Bản bắt đầu khởi chiếu series phim truyền hình Kozure Ōkami do tài tử Yorozuya Kinnosuke thủ diễn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Meifumadō&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; là tập phim thứ 5 trong series và được dịch sang Anh ngữ là "Lone Wolf and Cub: Baby Cart in the Land of Demons" hoặc "Shogun Assassin 4: Five Fistfuls of Gold" khi được trình chiếu tại Bắc Mỹ. Bản thân cụm từ Meifumadō (冥府魔道, đọc âm Hán Việt là "Minh phủ ma đạo") vốn không có trong tiếng Nhật mà là do tác giả Konoike đặt ra. Đây cũng là một thuật ngữ được dùng xuyên suốt nội dung bộ Manga và có một tầm tác động nhất định đến tiếng Nhật. Meifu (minh phủ) là âm ty, địa ngục, nơi những linh hồn tội lỗi sau khi chết bị giam giữ. Madō (ma đạo) chính là tà đạo, con đường của ma quỷ. Cha con đao phủ Ogami Ittō vì muốn báo thù kẻ đã hại gia tộc mình mà chấp nhận làm bất cứ điều gì, kể cả phải xuống âm ty hay đi vào ma đạo, để đạt mục đích. Cụm từ này nói lên quyết tâm sắt đá của Ogami, nhất định phải báo thù bằng mọi giá và chính nó đã mở ra một mục từ mới trong từ điển tiếng Nhật vì mức độ kinh điển của nó.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Trên bước đường lưu lạc giang hồ, cha con Ogami Ittō lần lượt bị năm thích khách của phiên Kuroda ám sát. Từng người một sau khi bị Ittō hạ đều đưa ra 100 lượng vàng và một ít thông tin về chính sự của phiên Kuroda. Mục đích của năm gia thần này là thử tài của Ogami Ittō trước khi quyết định thuê Ittō ám sát chúa Daimyō của phiên Kuroda. Chúa phiên vốn yêu một người thiếp nên đã phế thế tử, bắt giam trong ngục tối và lập con gái với người thiếp lên làm thế tử. Nhưng theo lệ thì vị ấu chúa khi đủ tuổi sẽ phải lên Edo diện kiến Shōgun, và nếu bị phát hiện là gái giả trai sẽ bị tru di cả họ, phiên Kuroda bị tịch thu. Để tránh cảnh đoạn tuyệt của cả họ tộc, các gia thần trong phiên đã bí mật thuê thích khách hành thích cả chúa công của mình...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137mmjiztizzj82382.jpeg" class="highslide" onclick="return hs.expand(this)"&gt;&lt;img src="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137mmjiztizzj82382.jpeg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137ndiwmmewow82323.jpeg" class="highslide" onclick="return hs.expand(this)"&gt;&lt;img src="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137ndiwmmewow82323.jpeg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137ywq5yza0nd65224.jpeg" class="highslide" onclick="return hs.expand(this)"&gt;&lt;img src="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137ywq5yza0nd65224.jpeg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137mmq2mmnjnj125746.jpeg" class="highslide" onclick="return hs.expand(this)"&gt;&lt;img src="http://upnhanh.sieuthinhanh.com/tmpimages/images/sieuthiNHANH2010091926137mmq2mmnjnj125746.jpeg" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Staff &amp;amp; Casting&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Hãng sản xuất: Tōhō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Chế tác: Katsu Shintarō, Matsubara Hisaharu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Nguyên tác: Koike Kazuo, Kojima Gōseki&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Kịch bản: Koike Kazuo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Đạo diễn: Misumi Kenji&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Ogami Ittō: Wakayama Tomisaburō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Ogami Daigorō: Tomikawa Akihiro&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Ayabe Ukon: Yamauchi Akira&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Mogami Shunsuke: Ōtaki Hideji&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Mawatara Hachirō: Naitō Takeshi&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Kikuchi Yamon:Suga Fujio&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Chúa Kuroda Naritaka: Yamashiro Shingo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Yagyū Retsudō: Ōki Minoru&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Link download&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.mediafire.com/?bepv76bppcmbb" target="_blank"&gt;Mediafire&lt;/a&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Lưu ý: sau khi tải xong 9 file, bạn đặt chúng trong cùng thư mục và dùng phần mềm &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;hjsplit&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; để nối lại rồi xem bình thường.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Link xem online&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần I: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqggk_meifumadou-vietsub-1_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần II: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqgxy_meifumadou-vietsub-2_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần III: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqh8k_meifumadou-vietsub-3_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần IV: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqhe7_meifumadou-vietsub-4_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần V: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqhxz_meifumadou-vietsub-5_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần VI: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqi52_meifumadou-vietsub-6_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần VII: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqidf_meifumadou-vietsub-7_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần VIII: &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqnhn_meifumadou-vietsub-8_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; * Phần IX (End): &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqo98_meifumadou-vietsub-9_shortfilms" target="_blank"&gt;Daily Motion&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-8057887622085294885?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/8057887622085294885/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/10/kozure-okami-movie-2.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8057887622085294885'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/8057887622085294885'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/10/kozure-okami-movie-2.html' title='Kozure Ōkami the Movie (2)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7656419615661797784</id><published>2010-09-19T10:35:00.000+09:00</published><updated>2010-09-19T10:37:15.480+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Kozure Ōkami the Movie (1)</title><content type='html'>&lt;span style="font-family: arial;font-size:130%;" &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Kozure Ōkami Ko wo kashi Ude kashi tatematsuru&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;  &lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (tạm dịch là "sói mang con", cho thuê con, nhận giết mướn)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Kozure Ōkami Ko wo kashi Ude kashi tatematsuru (子連れ狼 子を貸し腕貸しつかまつる) (tạm dịch là "sói mang con", cho thuê con, nhận giết mướn) là một tác phẩm điện ảnh Nhật Bản nằm trong series Kozure Ōkami do nam tài tử &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Wakayama Tomisaburō&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; thủ vai chính. Đây là tập đầu tiên trong series, được công chiếu vào năm 1972 và đạo diễn là Misumi Kenji. Tập phim này là tác phẩm điện ảnh hóa đầu tiên của bộ Manga cùng tên của Koike Kazuo và Kojima Gōseki. Tác phẩm này nhận được nhiều sự tán thưởng từ công chúng, vì vậy nó đã mở màn cho series Kozure Ōkami kéo dài đến năm 1974.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Cùng thời điểm với tập phim này là bộ phim về kiếm sĩ mù Zatōichi, Zatōichi Goyō no tabi do em trai của Wakayama Tomisaburō là Katsu Shintarō thủ diễn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca5.upanh.com/12.829.17047570.HLN0/kowokasiudewokasitatematsurivietsubavi001550508.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca2.upanh.com/thumbpic/12.829.17047571.CWd0/kowokasiudewokasitatematsurivietsubavi002148356.700x0.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca5.upanh.com/12.829.17047574.TpR0/kowokasiudewokasitatematsurivietsubavi002712796.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" border="0" /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Đây là tập đầu tiên trong series và giải thích thân thế của nhân vật chính, đao phủ Ogami Ittō cũng như động cơ lang thang của Ittō. Mở đầu phim là cảnh kiếm khách giang hồ Ogami Ittō đẩy chiếc xe nôi, cùng con trai là Daigorō lang bạc khắp nước Nhật. Trên xe nôi có giăng biển "cho thuê con, nhận giết mướn". Ogami Ittō vốn là cao thủ phái kiếm Suiō-ryū, được chọn làm đao phủ của Tướng quân, chuyên chém đầu các lãnh chúa Daimyō sau khi họ mổ bụng vì mắc trọng tội. Nhưng rồi cả họ tộc Ogami bị Yagyū Retsuō, một nhân vật đầy dã tâm trong bộ máy Mạc Phủ sát hại. Mục đích của Retsudō là chiếm vị trí đao phủ của Ittō, mặc chiếc áo có gia huy của Tướng quân, thứ tượng trưng cho quyền lực tối cao. Từ đó Ogami Ittō và đứa con trai sơ sinh còn sống sót sau vụ ám sát phải rời khỏi thành Edo, lang thang khắp nước Nhật để tìm cơ hội báo thù... Trong tập phim này, cha con Ogami được thiên hạ gọi là "sói mang con" và nhận giết mướn với 500 lượng cho mỗi mạng người. Một lần nọ, gia thần của phiên Oyamada đến nhờ Ittō hạ sát một gian thần có thế lực trong phiên...&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Staff &amp;amp; Casting&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Hãng sản xuất: Tōhō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Chế tác: Katsu Shintarō, Matsubara Hisaharu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Nguyên tác: Koike Kazuo, Kojima Gōseki&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Kịch bản: Koike Kazuo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Đạo diễn: Misumi Kenji&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Ogami Ittō: Wakayama Tomisaburō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Ogami Daigorō: Tomikawa Akihiro&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Osen: Mayama Tomoko&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Yagyū Kurando: [Tsuyugcgi Shigeru]]&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Yagyū Bizennokami: Watanabe Fumio&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Yagyū Retsudō: Itō Yūnosuke&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Sugito Kemmotsu: Uchida Asao&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Xem Online&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;span style="font-family: arial;"&gt;Phần I:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqotz_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần II:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqpb0_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần III:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqpmn_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần IV:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqypo_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần V:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqqi5_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần VI:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqyxz_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần VII:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqz4g_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần VIII:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqzif_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_school" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...matsuri_school&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Phần IX (end):&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.dailymotion.com/video/xeqzbp_ko-wo-kasi-ude-wo-kasi-tatematsuri_shortfilms" target="_blank"&gt;http://www.dailymotion.com/video/xeq...uri_shortfilms&lt;/a&gt;&lt;!-- / message --&gt;        &lt;!-- sig --&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;               __________________&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Tải về máy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;a style="font-family: arial;" href="http://www.mediafire.com/?bnno4mjdz7gee" target="_blank"&gt;Mediafire&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7656419615661797784?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7656419615661797784/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/kozure-okami-movie-1.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7656419615661797784'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7656419615661797784'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/kozure-okami-movie-1.html' title='Kozure Ōkami the Movie (1)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-35726902091991033</id><published>2010-09-05T08:09:00.001+09:00</published><updated>2010-09-05T08:09:50.519+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Anime'/><title type='text'>Great Anime: Atama Yama</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" class="content"&gt;    &lt;div id="post_message_16202362"&gt;     &lt;blockquote class="postcontent restore"&gt;      &lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Atama yama&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; (頭山), tạm dịch là "núi đầu", là một vở diễn kịch &lt;span style="color:Teal;"&gt;&lt;b&gt;Rakugo&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;. Tại vùng Edo, vở diễn này có tên là "Atama yama" nhưng tại các xứ miền Tây Nhật Bản như Kyōto hay Ōsaka thì nó còn có tên là "Sakurambo" (quả Anh đào). Đây là một trong những vở diễn nổi tiếng của soạn giả Rakugo miền Tây là Katsura Jakujaku. Với đề tài về một người đàn ông keo kiệt, Atama yama là một kiệt tác có nội dung phi hiện thực nhất trong số các tác phẩm Rakugu nhưng lại khiến người nghe có cảm giác hiện thực nhất. Năm 2002, Atama yama đã được đạo diễn Anime là &lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Yamamura Kōji&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; dựng thành Anime đoản biên và tác phẩm này đã nhận được giải thưởng trong liên hoan phim Nhật Bản lần thứ 23. Tác phẩm Anime này được dàn dựng theo phong cách Rakugo với tài dẫn dắt của &lt;span style="color:Blue;"&gt;&lt;b&gt;Kunimoto Takeharu&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;, một nghệ nhân hát với đàn Shamisen. Trước mỗi câu dẫn truyện của Kunimoto đều có tiếng đàn Shamisen. Có thuyết cho rằng nội dung của Atama yama dựa trên chương "tăng chính đào ao" (Horiike Sōjō) trong tập sách &lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Tsurezuregusa&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; của nhà sư Yoshida Kenkō.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ca4.upanh.com/12.826.17044445.qYJ0/youtubeatamayamamthead1avi000103920.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img src="http://ca5.upanh.com/thumbpic/12.826.17044446.jex0/youtubeatamayamamthead1avi000207960.700x0.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có một gã đàn ông keo kiệt nuốt luôn cả hạt Anh đào sau khi ăn. Sau đó trên đầu gã mọc ra một cây Anh đào. Theo năm tháng, cây Anh đào nở hoa lộng lẫy khiến những người trong vùng vui mừng, lũ lượt kéo đến ngắm hoa. Khách ngắm hoa ăn uống nhộn nhạo trên đầu khiến gã đàn ông tức giận, với tay nhổ luôn gốc cây trên đầu. Nhưng rồi nước mưa đọng vào trong cái lỗ sau khi nhổ cây Anh đào ra khỏi đầu, biến nó thành cái ao câu cá của những người chung quanh. Lần này gã đàn ông tức giận, gieo mình xuống cái ao trên đầu mình rồi chết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Truyện tương tự&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tiểu thuyết "Cuộc mạo hiểm của Nam tước thổi tù và" của Gottfried August Brger cũng có đoạn tương tự. Nhân vật chính là Nam tước Münchhause trong lần đi săn, đuổi theo con nai nhưng súng đã hết đạn đành lấy hạt Anh đào thay đạn. Hạt Anh đào bắn vào giữa trán con nai khiến nó hoảng sợ bỏ chạy. Mấy năm sau, khi trở lại săn cùng địa điẻm cũ thì Nam tước phát hiện ra một con nai, giữa trán có cây Anh đào 10 feet. Nam tước giết chết con nai và có được món thịt nai ngon tuyệt cùng nước sốt Anh đào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phụ đề Việt ngữ &amp;amp; phiên âm La Tinh: Như Thị Duyên&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Xem Online&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;object type="application/x-shockwave-flash" data="http://www.youtube.com/v/c8OgbOO-aoU" width="425" height="355"&gt; &lt;param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/c8OgbOO-aoU"&gt; &lt;param name="play" value="0"&gt; &lt;param name="wmode" value="transparent"&gt; &lt;param name="quality" value="medium"&gt; &lt;param name="loop" value="0"&gt; &lt;/object&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Magenta;"&gt;Tải về máy&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.mediafire.com/?67x6qlztchkvh" target="_blank"&gt;Link Mediafire&lt;/a&gt;&lt;img src="http://l.yimg.com/us.yimg.com/i/mesg/emoticons7/4.gif" alt="" title="big green" class="inlineimg" border="0" /&gt;     &lt;/blockquote&gt;    &lt;/div&gt;          &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-35726902091991033?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/35726902091991033/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/great-anime-atama-yama.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/35726902091991033'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/35726902091991033'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/great-anime-atama-yama.html' title='Great Anime: Atama Yama'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-172640142746555009</id><published>2010-09-01T06:37:00.000+09:00</published><updated>2010-09-01T06:38:11.306+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Kozure Ōkami (cont.)</title><content type='html'>&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Kozure Ōkami&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; là  loạt phim điện ảnh Nhật Bản do nam tài tử Wakayama Tomisaburō thủ diễn,  gồm 6 phần kéo dài từ năm 1972 đến năm 1974. Loạt phim này được xếp vào  thể loại Jidaigeki và được dựng từ nguyên tác Manga cùng tên của Koike  Kazuo và họa sĩ Kojima Gōseki. Nhà sản xuất của phim là tài tử Katsu  Shintarō, em trai ruột của Tomisaburō (giữa chừng, Katsu không tham gia  series nữa và Tomisaburō thay chân, tham gia với vai trò nhà sản xuất).  Loạt phim này chiếm được cảm tình của khán giả trong nước Nhật nhờ những  cảnh hành động ấn tượng của Wakayama Tomisaburō, nhưng đến năm 1973 thì  nảy sinh mâu thuẫn về bản quyền khi phiên bản Kozure Ōkami do tài tử  Yorozuya Kinnosuke  thủ diễn được phát sóng trên truyền hình, giữa phía  Katsu và cục truyền hình mang ý kiến đối lập nhau nên loạt phim điện ảnh  này đã kết thúc bỏ ngõ ở phần 6 (thuật ở phần sau)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Hai tập phim trong loạt phim này là "Ko wo kashi Ude wo  kashitatematsuru" ("cho thuê con, nhận giết mướn") và "Sanzu no kawa no  Ubaguruma" ("xe nôi xuống sông Tam Đồ) được đạo diễn người Mỹ Roger  William Corman dựng lại, gom thành một tập với cái tên "Shogun  Assassin". Bộ phim này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ phía  khán giả Mỹ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;&lt;br /&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; Sáu bộ phim trong series này bám theo sát nội dung trong Manga, nhưng do  lúc khởi quay thì nguyên tác Manga vẫn chưa kết thúc nên không có cảnh  nhân vật chính Ogami Ittō quyết đấu với cả họ Yagyū. Bản thân vai diễn  Ogami Ittō, cao thủ phái kiếm Suiō-ryū được tài tử Wakayama Tomisaburō  thể hiện rất thành công và được đánh giá cao, bởi chính bản thân tài tử  này cũng là người có đẳng cấp trong kiếm đạo.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Những chuyện lặt vặt xoay quanh bộ phim&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Nam tài tử Wakayama Tomisaburō là người rất thích nguyên tác  Kozure Ōkami, một hôm bỗng đến tìm tác giả Koike Kazuo xin ông cho phép  mình đóng vai Ittō trong phim. Nhìn tướng mạo Wakayama, tác giả Koike  lưỡng lự vì thể hình của Wakayama to béo hơn nhân vật Ittō trong Manga.  Biết được điều đó, Wakayama chộp lấy thanh kiếm thật trước mặt, xuất  chiêu chém chuồn chuồn, rút kiếm, thu kiếm trong nháy mắt. Chứng kiến  tài nghệ tuyệt luân này, Koike cảm phục và đồng ý cho Wakayama thủ vai  chính trong bộ phim.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Họa sĩ của nguyên tác Manga là Kojima Gōseki vốn cũng rất thích  những cảnh đánh nhau của tài tử Wakayama nên khi nghe Koike nói sẽ giao  vai Ittō cho tài tử này thì ông đồng ý ngay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Khi phiên bản phim truyền hình do tài tử Yorozuya Kinnosuke thủ  diễn được dàn dựng thì Wakayama rất đỗi tức giận, thét rằng "Kinnosuke  và ta, ai xứng với vai Ittō hơn, cứ đọ kiếm thì biết!" khiến em trai là  Katsu Shintarō phải ra sức can ngăn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Nhiều cảnh diễn trong loạt phim này để lại ấn tượng sâu đậm cho  người xem nên được tái hiện trong phiên bản phim truyền hình do Yorozuya  Kinnosuke thủ diễn. Wakayama Tomisaburō hết sức bực mình vì cảnh diễn  của mình lại bị người khác diễn lại nên đã kiến nghị với giám đốc của  Katsu Production là Katsu Shintarō, đồng thời cũng là em trai của mình.  Nhưng rốt cuộc Katsu đã bán bản quyền những cảnh diễn này cho cục truyền  hình. Vì lý do này mà hai anh em Wakayama Tomisaburō và Katsu Shintarō  bất hòa một thời gian.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Nguyên tác giả Koike Kazuo từng nói rằng, chính nhờ có nét vẽ của  họa sĩ Kojima Gōseki mà thế giới của Kozure Ōkami được hình thành, và  chính nhờ có tài diễn xuất của Wakayama Tomisaburō mà Kozure Ōkami được  cả Thế giới biết đến. Nếu thiếu một trong hai người thì Kozure Ōkami sẽ  không nhận được sự hoan nghênh như ngày nay.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các diễn viên chính&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Wakayama Tomisaburō trong vai Ogami Ittō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Tomikawa Akihiro trong vai Ogami Daigorō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * Itō Yūnosuke, Endō Tatsuo, Ōki Minoru vai Yagyū Retsudō&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;br /&gt; &lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các tập phim trong series&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Ko wo kashi Ude wo kashitatematsuru&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (子を貸し腕貸しつかまつる), đạo  diễn Misumi Kenji, sản xuất năm 1972. Tiêu đề tập phim này tạm dịch là  "Cho thuê con, nhận giết mướn" và được dịch sang Anh ngữ là Sword of  Vengeance.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Sanzu no Kawa no Ubaguruma&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (三途の川の乳母車), đạo diễn Misumi  Kenji, sản xuất năm 1972. Tiêu đề tập phim này tạm dịch là "Xe nôi xuống  sông Tam Đồ" và được dịch sang Anh ngữ là Baby Cart at the River Styx.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Shini Kaze ni mukau Ubaguruma&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (死に風に向う乳母車), đạo diễn Misumi  Kenji, sản xuất năm 1972. Tiêu đề tập phim này tạm dịch là "Xe nôi về  nơi gió chết" và được dịch sang Anh ngữ là Baby Cart to Hades.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Oya no kokoro Ko no kokoro&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (親の心子の心), đạo diễn Saitō Buichi,  sản xuất năm 1972. Tiêu đề tập phim này tạm dịch là "Lòng cha, lòng  con" và được dịch sang Anh ngữ là Baby Cart in Peril.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Meifumadō&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (冥府魔道), đạo diễn Misumi Kenji, sản xuất năm 1972.  Tiêu đề tập phim này tạm dịch là "Minh phủ ma đạo" và được dịch sang  Anh ngữ là Baby Cart in the Land of Demons.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Jigoku e Ikuzo, Daigorō! &lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;(地獄へ行くぞ!大五郎), đạo diễn Kuroda  Yoshiyuki, sản xuất năm 1972. Tiêu đề tập phim này tạm dịch là "Xuống  địa ngục thôi, Daigorō!" và được dịch sang Anh ngữ là White Heaven in  Hell.   &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-172640142746555009?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/172640142746555009/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/kozure-okami-cont.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/172640142746555009'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/172640142746555009'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/09/kozure-okami-cont.html' title='Kozure Ōkami (cont.)'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3899638914593275214</id><published>2010-08-30T20:16:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:45:14.110+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Kozure Ōkami</title><content type='html'>&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Kozure Ōkami&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (子連れ狼, tạm dịch là "sói  mang con") là một tác phẩm Jidaigeki Manga Nhật Bản của tác giả Koike  Kazuo và họa sĩ Kojima Gōseki. Tác phẩm được đăng tải liên tục trên tạp  chí Manga Action từ tháng 9 năm 1970 cho đến tháng 4 năm 1976. Tác phẩm  Manga  này sau đó trở nên nổi tiếng trong văn hóa đại chúng tại Nhật Bản  rồi lan truyền ra hải ngoại. Nhiều bộ phim điện ảnh, truyền hình đã  được dựng dựa trên nguyên tác Manga này và nhận được sự hoan nghênh  nhiệt liệt tại nhiều nước trên Thế giới, dù một số bộ phim về nó bị cấm  chiếu ở một số nước trong thời gian dài vì những cảnh bạo lực. Kozure  Ōkami đã trở thành một thứ văn hóa phổ thông tại Nhật Bản và có tầm ảnh  hưởng nhất định đến đời sống văn hóa của đất nước này.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Bối cảnh của Kozure Ōkami là một xã hội tưởng tượng, mô phỏng xã hội  Nhật Bản thời Edo khi chính quyền Tokugawa cai trị đất nước. Để dễ dàng  kiểm soát các chư hầu Daimyō, chính quyền Tokugawa đã đặt ra ba tổ chức  phù trợ mình. Đầu tiên là nhóm Ninja  mật thám do họ Kurokuwa cầm đầu  chuyên dò la chứng cứ sai phạm của các chúa Daimyō để đẩy họ vào cảnh bị  tịch thu lãnh địa. Thứ hai là nhóm thích khách do họ Yagyū chỉ đạo, làm  nhiệm vụ ám sát các nhân vật quan trọng gây cản trở chính sách của  Tokugawa và cuối cùng là chức đao phủ của Shōgun  chuyên chặt đầu các  lãnh chúa phạm tội phải mổ bụng. Trong số này thì chỉ có chức đao phủ là  được ban cho đặc ân mặc chiếc áo có gia huy của Shōgun, tượng trưng cho  quyền lực của Mạc Phủ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Kozure Ōkami là câu chuyện về nhân vật đao phủ Ogami Ittō đi lang bạc  giang hồ cùng đứa con trai ba tuổi của mình nhằm hành thích Yagyū  Retsudō để báo thù cho người vợ là Azami đã bị Retsudō sát hại. Nguyên  tác Manga của Koike Kazuo và họa sĩ Kojima Gōseki đã chiếm vị trí cố  định trong lòng người đọc, nó được đánh giá là một dấu móc của kịch họa  Nhật Bản. Sau đó nó càng trở nên nổi tiếng hơn khi sáu bộ phim cùng tên  do tài tử Wakayama Tomisaburō thủ diễn ra đời, bám theo sát nguyên tác.  Một thời gian sau thì Kozure Ōkami được dựng thành phim truyền hình do  tài tử Yorozuya Kinnosuke thủ diễn và nổi tiếng vì tài diễn xuất của tài  tử này. Đến năm 1993, hãng phim Shōchiku chế tác lại bộ phim, nam tài  tử Murata Masakazu thủ vai chính đã gây lại làn sóng Kozure Ōkami tại  Nhật sau hơn 20 năm kể từ ngày ra đời.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://ca6.upanh.com/12.558.16790406.OOP0/MeifumadouVietsubavi_001687145.jpg" rel="lyteshow[375405]"&gt;&lt;img src="http://ca6.upanh.com/12.558.16790406.OOP0/MeifumadouVietsubavi_001687145.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://ca4.upanh.com/12.558.16790412.OOP0/MeifumadouVietsubavi_001736152.jpg" rel="lyteshow[375405]"&gt;&lt;img src="http://ca4.upanh.com/12.558.16790412.OOP0/MeifumadouVietsubavi_001736152.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://ca5.upanh.com/12.558.16790421.CPH0/MeifumadouVietsubavi_001739948.jpg" rel="lyteshow[375405]"&gt;&lt;img src="http://ca5.upanh.com/12.558.16790421.CPH0/MeifumadouVietsubavi_001739948.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Kozure Ōkami là một trong những tác phẩm Manga đầu tiên xâm nhập vào thị  trường Mỹ (1987) và gây dựng nền tảng cho Manga Nhật Bản tại hải ngoại.  Tại Mỹ quốc, nó được biết đến với cái tên "Lone Wolf and Cub". Thời  gian gần đây, hãng Dark Horse Comic đã dịch tác phẩm này sang Anh ngữ và  nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ phía công chúng. Hãng này còn  xuất bản một tác phẩm truyện tranh khác là "Lone Wolf 2010" dù nội dung  không hề liên quan gì đến Kozure Ōkami, nhưng có ghi chú một câu là  "Inspired by the classic manga series Lone Wolf and Cub" (chị ảnh hưởng  từ bộ Manga kinh điển "Lone Wolf and Cub"). Kozure Ōkami còn là nguồn  cảm hứng cho hai bộ phim Mỹ đình đám những năm gần đây là Road to  Perdition và Kill Bill. Bản thân đạo diễn phim Kill Bill, Quentin  Tarantino cũng là một fan cuồn nhiệt của Kozure Ōkami.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tác phẩm Manga này đã được xuất bản thành Tankōbon và bán được 830 vạn  bản trong nước Nhật, 1180 vạn bản trên toàn Thế giới. Từ tháng 11 năm  2003 trở đi, tạp chí truyện tranh Shūkan Post đã cho đăng tải phần tiếp  theo là Shin Kozure Ōkami với cùng tác giả Koike Kazuo nhưng họa sĩ lần  này là Mori Hideki vì họa sĩ Kojima Gōseki đã qua đời. Đây là phần tiếp  theo của Kozure Ōkami, bắt đầu từ sau cái chết của nhân vật chính Ogami  Ittō trong trận đấu kinh thiên động địa với cừu địch Yagyū Retsudō. Kể  từ tháng 1 năm 2007, bộ mới được tạp chí Jidaigeki Manga Yaiba đăng tải  với cái tên Soshite Kozure Ōkami, shikaku no ko (tạm dịch: sói mang con,  con trai của thích khách).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các nhân vật chính&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b face="arial"&gt;Ogami Ittō (拝一刀)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     Cao thủ phái kiếm Suiō-ryū, sử dụng thanh kiếm Dōtanuki, được chọn  làm người đại diện cho Shōgun chém đầu các chúa Daimyō mắc tội mổ bụng.  Ogami bị tổng soái của nhóm thích khách là Yagyū Retsudō mưu hại, tàn  sát người vợ yêu quý và cả họ tộc. Bị đẩy đến đường cùng, Ogami cùng đứa  con trai ba tuổi lang thang khắp nơi, nhận giết mướn kiếm sống (một  mạng người năm trăm lượng) nhằm tìm cơ hội hành thích Retsudō. Trên bước  đường giang hồ, cha con Ogami phải chống chọi với mọi hiểm nguy do bọn  Retsudō gây ra và thề là phải đi trên con đường địa ngục, bất chấp mọi  sự trả giá để sinh tồn.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b face="arial"&gt;Ogami Daigorō (拝大五郎)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;    Con trai của Ogami Ittō, mẹ là Azami bị sát hại khi mới chào đời. Kể  từ đó, Daigorō theo cha trên đường gian hồ, trải qua vô vàn nguy hiểm  sinh tử và có được tinh thần, ánh mắt bình tĩnh khi đối mặt với cái chết  (tử sinh nhãn). Trong Manga, họa sĩ Kojima Gōseki vẽ Daigorō theo mẫu  hình nhân Hakata. Daigorō được mô tả là một cậu bé ít nói, chỉ lẳng lặng  quan sát cha mình chiến đấu và thỉnh thoảng mới thốt lên tiếng gọi cha.  Tình cảm giữa hai cha con Ittō và Daigorō cũng được mô tả vượt lên trên  tình phụ tử thông thường, nó là thứ tình cảm của hai tinh thần đồng cảm  với nhau, có thể hiểu được ý nghĩ của nhau mà không cần lời nói. Chỉ có  cha mới hiểu được lòng con và chỉ có con mới hiểu được lòng cha. Chính  vì vậy, trong nhiều trận đụng độ, Ogami Ittō bị đối phương khinh miệt là  bỉ ổi khi đẩy chính con trai ruột của mình vào chỗ nguy hiểm để làm đối  thủ phân tâm. Nhưng trên hết, đó là tình cha con bất nhị, vượt ra khỏi  mọi lý lẽ thông thường của thế gian.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://ca4.upanh.com/12.558.16790424.UKU0/MeifumadouVietsubavi_002473807.jpg" rel="lyteshow[375405]"&gt;&lt;img src="http://ca4.upanh.com/12.558.16790424.UKU0/MeifumadouVietsubavi_002473807.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b face="arial"&gt;Yagyū Retsudō (柳生 烈堂)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     Cừu địch không đội trời chung của Ogami Ittō, tổng soái của họ Yagyū  tà đạo (Ura Yagyū), tên là Gisen, hiệu là Retsudō. Retsudō thống lĩnh  nhóm mật thám gọi là "Kusa" rải rác khắp toàn quốc nhằm quan sát mọi  động tĩnh của các Daimyō. Nếu trong khi thực thi chính sách của Mạc Phủ  mà gặp phải cản trở thì Retsudō cũng thống lãnh nhóm thích khách đi mạt  sát đối thủ. Thời điểm câu chuyện bắt đầu thì nhóm mật thám Kurokuwa đã  lọt vào tầm kiểm soát của Retsudō và trở thành công cụ cai trị của ông  ta. Theo lời của Ogami Ittō thì Retsudō chính là Retsudō Gisen, con trai  của Yagyū Munenori và là một vị sư tồn tại trong lịch sử.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     Nguyên nhân của việc Retsudō mưu hại cả nhà Ogami Ittō là cuộc ngự  tiền tỷ võ phân định chức đao phủ của Tướng quân. Trong trận tỷ võ này,  con trai của Retsudō là Yagyū Gumpei thất bại trước Ittō và phải nhường  lại vị trí này. Kể từ đó Retsudō ôm hận và bày mưu sát hại cả nhà Ittō,  nhưng hai cha con trốn thoát khỏi Edo và bắt đầu lang thang khắp nơi  nhằm tìm cơ hội báo thù. Từ đó, Retsudō chỉ huy 5 người con và bọn mật  thám Kusa rình rập ám sát cha con Ogami trên từng bước đi nhưng luôn  thất bại, cuối cùng cả 5 người con đều vong mệnh, nhóm mật thám bị tiêu  diệt hoàn toàn và chính Retsudō cũng mất đi một con mắt về tay Ittō.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Matsudaira Suō (松平周防)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     Một quan chức trong Mạc Phủ, thâm giao với Ogami Ittō và là người  đóng vai trò to lớn trong việc đưa Ittō vào chức đao phủ của Tướng quân.  Trong trận ngự tiền tỷ võ giữa Ogami Ittō và con trai của Yagyū Retsudō  là Gumpei, chính Suō đã chỉ ra rằng mũi kiếm của Gumpei chỉa về phía  Tướng quân, và như vậy bị xử thua. Matsudaira Suō cũng là người khám phá  ra dã tâm của Yagyū Retsudō và bị Retsudō căm hận, cuối cùng bị ám sát  chết. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các bộ phim về Kozure Ōkami&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Phim điện ảnh&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * &lt;/span&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Kozure Ōkami (bản Wakayama Tomisaburō)&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Kozure Ōkami Sono Chiisaki te ni&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Phim truyền hình&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Kozure Ōkami (bản Yorozuya Kinnosuke)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Jidaigeki Special Kozure Ōkami&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Kozure Ōkami (bản Takahashi Hideki)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Kozure Ōkami (bản Kitaōji Tetsuya)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vn.360plus.yahoo.com/nippon_bujutsu/article?mid=355" target="_blank"&gt;Review Kozure Ōkami&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3899638914593275214?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3899638914593275214/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/kozure-okami.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3899638914593275214'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3899638914593275214'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/kozure-okami.html' title='Kozure Ōkami'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4582012787920081790</id><published>2010-08-21T02:22:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:44:16.492+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Anime: Shigurui</title><content type='html'>&lt;div style="font-family: arial;" id="post_message_274182"&gt;        &lt;b&gt;Shigurui &lt;/b&gt;(シグルイ, tạm dịch là "Cuồng tử") là một tác phẩm &lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Jidaigeki Manga&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; của họa sĩ Yamaguchi Takayuki, dựa trên tiểu thuyết của tác giả Nanjō Norio. Tác phẩm này được đăng tải liên tục trên tạp chí Manga của Akita Shoten là Champion Red từ số tháng 8 năm 2003 cho đến tháng số 9 năm 2010. Bản Tankōbon được Champion Red phát hành, tính đến thời điểm tháng 3 năm 2010 đã được 14 cuốn. Sách giải thích chính thức cho tác phẩm này có tên là "Shigurui Ōgi Hidensho" (Bí kiếp bí truyền thư "Cuồng tử").&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" src="http://ca5.upanh.com/11.1002.16208146.CEU0/Shigurui.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tên của tác phẩm bắt nguồn từ một đoạn trong &lt;span style="color:Blue;"&gt;&lt;b&gt;Hagakure&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;, một quyển sách được cho là mô tả chính xác về Võ sĩ đạo, là "Bushidō wa Shigurui. Hitori no satsugai wo sūjūnin shite gakanurumono" (Võ sĩ đạo là cuồng tử, có khi mười mấy người không đủ giết một mạng người). Tác phẩm này cũng đã được dựng thành Anime và phát sóng trong khuôn khổ WOWOW&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác phẩm Manga này dựa trên chương đầu trong cuốn tiểu thuyết thời đại (&lt;b&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Jidai Shōsetsu&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;) của nhà văn Nanjō Norio là &lt;b&gt;&lt;span style="color:SeaGreen;"&gt;Surugajō Gozenjiai&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; (tạm dịch là "cuộc ngự tiền tỷ võ ở thành Suruga"), nhưng qua tài biến hóa của họa sĩ Yamaguchi Takayuki thì các tình tiết đã triển khai khác đi nhiều so với nguyên tác và gần như trở thành một tác phẩm độc lập. Nội dung của Manga được lồng ghép từ mẫu chuyện ngắn trong Surugajō Gozenjiai và các nhân vật chủ yếu trong đó đều liên quan đến các nhân vật xuất hiện trong chương đầu của cuốn tiểu thuyết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Về nguyên bản tiểu thuyết&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiểu thuyết Surugajō Gozenjiai của nhà văn Nanjō Norio được cấu thành bởi một loại các câu chuyện ngắn xoay quanh mười một trận tỷ kiếm do phiên chủ của phiên Sunpu là Tokugawa Tadanaga tổ chức. Bản tiểu thuyết này được viết từ khá lâu và đã tuyệt bản, chỉ còn có thể tìm thấy ở các chợ sách cũ với giá từ vài ngàn cho tới một vạn En Nhật. Nhưng sau khi tác phẩm Manga Shigurui ra đời thì các phiếu bầu trên trang web Fukkatsu Dottokomu (trang web chuyên kinh doanh in ấn các loại sách cũ đã tuyệt bản) tăng vọt, đến tháng 10 năm 2005 thì nhà xuất bản Tokuma Bunko đã xuất bản lại cuốn tiểu thuyết này. Hình bìa của bản tiểu thuyết mới có cảnh lấy từ Shigurui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phiên bản Manga của tiểu thuyết Surugajō Gozenjiai được họa sĩ truyện tranh Hirata Hiroshi dựng lại với cái tên "Sunpu Sōzetsu Daijiai" (trận đấu ác liệt ở thành Sunpu), nhưng phiên bản này không bao gồm nội dung chương một của bản tiểu thuyết là "Mumyō Gyaku Nagare" (vô minh chảy ngược). Nội dung của chương đầu của bản tiểu thuyết chỉ được chuyển thể thành Manga qua Shigurui và một bản Manga khác của Tomi Shinzō, em trai của Hirata Hiroshi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1963, nội dung của chương đầu "Mumyō Gyaku Nagare" được dựng thành phim điện ảnh với cái tên "Taiketsu" (quyết đấu).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 24 tháng 9 năm Kan Ei thứ 6, thành chủ thành Sunpu là Tokugawa Tadanaga mở hội tỷ võ, quy tụ các kiếm khách trong thiên hạ về dưới thành. Theo thông lệ thì các trận đấu trong các cuộc tỷ võ lần trước đều dùng mộc kiếm, nhưng lần này chúa Tokugawa Tadanaga cho các võ sĩ dùng kiếm thật và có thể tàn sát lẫn nhau, bất chấp lời can gián của quần thần. Trong cuộc ngự tiền tỷ võ, đối thủ xuất hiện trước kiếm sĩ một tay Fujiki Gennosuke là kiếm khách Irako Seigen, một gã mù và què. Trong khi hội chúng đang lo lắng cho số mạng của Irako vì đối thủ không cân sức thì Irako lại rút kiếm, vào một thế thủ kỳ lạ. Irako đâm kiếm xuống mặt đất như chống gậy, dùng ngón chân kẹp chặt lưỡi kiếm và oằn người khiến hội chúng phải sửng sốt. Thực ra hai kiếm sĩ này có mối nhân duyên không hề đơn giản. Bảy năm trước, kiếm khách Iwamoto Kogan, người được xưng tụng là vô song ở đất Nōbi (hai xứ Minō và Owari)lập môn phái Kogan-ryū (phái Hổ Nhãn),mở võ đường dạy kiếm ở Kakegawa. Vào một ngày mùa hè, Irako Seigen tìm đến võ đường của phái Kogan-ryū thách đấu. Đối thủ đầu tiên của Irako là Fujiki nhưng chẳng mấy chốc đã bị hắn dùng thuật "cốt tử" đánh bại. Đối thủ tiếp theo là quyền sư phụ Ushimata Gonzaemon đã đánh bại Irako khiến hắn đầu hàng và xin gia nhập môn phái. Từ đó trở đi, ba người Ushimata, Fujiki và Irako được gọi là "nhất hổ song long" của phái Kogan-ryū.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" src="http://ca3.upanh.com/11.1002.16208144.XOZ0/shi1.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một năm sau, Irako Seigen luyện tập tinh tấn, trở thành kiếm sĩ số một của võ đường và được chọn làm người kế tục môn phái. Sư phụ Iwamoto Kogan có một người con gái, định gái cho một trong số ba người đệ tử. Dĩ nhiên người giỏi nhất sẽ được chọn, và Kogan đã hạ lệnh đồ đệ của mình đi ám sát hai người con của cừu địch Funagi. Fujiki dùng thuật "Nagare" của phái Kogan-ryū đánh bại người anh trai còn Irako thì đánh bại người em, kẻ gây ra biến loạn. Vào cuối năm, khi đã hội đắc được tuyệt kỹ "Nagare", Irako Seigen được sư phụ Kogan chọn gả con gái cho. Lúc này Irako nảy sinh dã tâm, muốn lợi dụng phái kiếm Kogan-ryū để làm bàn đạp nâng cao danh vọng cho bản thân nên đã thông gian với Iku, tình nhân của Kogan. Kogan biết được chuyện này, sau khi tra khảo thì dùng bí kiếp "Nagareboshi" (sao băng) chém đứt hai mắt của Irako rồi đuổi đi cùng với Iku.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ba năm sau, lúc phái Kogan-ryū đang thời cực thịnh thì nảy sinh sự việc các môn đệ của phái bị ám sát ban đêm, đầu bêu trước cửa võ đường. Các cao đồ chia nhau truy tìm hung thủ nhưng cũng bị sát hại với cùng cách thức. Dựa vào món đồ bên cạnh xác chết, Fujiki đoán được hung thủ chính là Irako. Bọn Kogan được mời đến dinh thự của vị quan mù theo âm mưu của Irako. Xuất hiện trước bọn Kogan là Sekiun, một kiếm sĩ thạo kiếm thuật phương Tây nhưng bị Kogan đánh bại dễ dàng. Mấy ngày sau, thầy trò Kogan lại trúng quỷ kế của Irako, lực lượng phân tán và bản thân Kogan bị chính Irako sử dụng bí kiếm "Mumyō Nagare" chém chết, kết thúc một huyền thoại bất bại ở xứ Nōbi...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các tuyệt kỹ chính của phái kiếm Kogan-ryū&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phái kiếm Kogan-ryū do Iwamoto Kogan thành lập với tông chỉ thực dụng là không dùng lực mạnh để tránh làm gãy kiếm, không chém vô ích mà chỉ dùng một nhát chém nhẹ để kết liễu đối phương. Phái này chủ yếu sử dụng [[Katana], nhưng khi cần cũng có thể sử dụng đoản kiếm Wakizashi và song kiếm. Phái Kogan còn có nhiều đòn thế Nhu thuật và các đòn Atemi. Do khai tổ của phái này là người có nhiều ngón tay nên các đòn thế chú trọng ở lực và độ chính xác của ngón tay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Koken (Hổ quyền)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Đòn Atemi dùng cổ tay, một nhát làm biến dạng cả thân người. Đòn này được tung ra với tốc độc cực nhanh và gần giống với "cô quyền" trong Karate.&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;br /&gt;Koken no Nagareboshi (sao băng Hổ quyền)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;   Đòn thế của Fujiki sáng tạo khi được Kogan chỉ điểm dựa trên nguyên lý của Nagareboshi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tsuchirai (địa lôi)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;   Đòn phản công khi bị đối phương đè lên người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nagare (dòng chảy)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Tuyệt kỹ bí kiếm không truyền dạy cho đồ đệ bình thường. Một tay vác kiếm sau lưng, xông đến đối phương rồi vung kiếm chém ngang. Khi vừa chém ra thì đồng thời cho kiếm tuột khỏi tay đoạn từ đốc kiếm cho đến chuôi kiếm. Đòn thế này lấy quan điểm nếu chém vào cơ thể người ba thốn thì cũng gây vết thương chí mạng của Kogan làm tông chỉ. Để sử dụng đòn thế này cần phải có lực nắm mạnh, nếu không kiếm sẽ bay khỏi tay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nagareboshi (sao băng)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Tất sát kiếm của Kogan chỉ truyền riêng cho đệ tử đã hội đắc tất cả các chiêu kiếm của môn phái. Kẻ nào chưa đạt tới trình độ đó thì nhất quyết không cho xem. Khi Kogan sử dụng đòn này trước mặt chúa Tokugawa, cả 6 cái đầu của tội nhân đồng loạt tung bay trong khi đầu của 2 người phía trong vẫn dính liền trên cổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hien Yokonagare (phi yến băng ngang)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;   Đòn thế xoay ngược người, tung ra chiêu Nagare.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Himo Kagami (mặt gương)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Himo mang nghĩa là mặt nước đóng băng. Dùng thân kiếm làm gương để soi mọi động tĩnh của đối phương. Chiêu này bổ trợ cho Hien Yokonagare.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Lược bỏ nhiều tuyệt kỹ)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" src="http://ca6.upanh.com/11.1002.16208151.ZPN0/sigurui_39_07.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Phiên bản Anime truyền hình&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phiên bản Anime truyền hình được phát sóng từ ngày 19 tháng 7 năm 2009 cho đến tháng 10 cùng năm. Vì có nhiều cảnh bạo lực nên phiên bản Anime này được chỉ định cấm người dưới 15 tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* &lt;a href="http://internet.kill.jp/wiki/index.php?cmd=read&amp;amp;page=%A5%B3%A5%DF%A5%C3%A5%AF%2F%A5%B7%A5%B0%A5%EB%A5%A4%2F%C7%AF%C9%BD" target="_blank"&gt;Niên biểu Shigurui (tiếng Nhật)&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;* &lt;b&gt;&lt;a href="http://japanest.com/forum/showthread.php?t=29195" target="_blank"&gt;Phụ đề Việt ngữ cho bản Anime truyền hình&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;   &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-4582012787920081790?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/4582012787920081790/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/anime-shigurui.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4582012787920081790'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/4582012787920081790'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/anime-shigurui.html' title='Anime: Shigurui'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-3645041820132585463</id><published>2010-08-20T00:57:00.001+09:00</published><updated>2010-08-21T02:21:30.036+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Anime'/><title type='text'>Anime: Arashi no yoru ni</title><content type='html'>&lt;div class="smallfont"&gt;     &lt;img title="Mặc Định" class="inlineimg" src="http://dienanh.net/forums/images/icons/icon1.gif" alt="Mặc Định" border="0" /&gt;     &lt;strong&gt;Một đêm giông bão&lt;/strong&gt;    &lt;/div&gt;    &lt;hr style="color: rgb(253, 253, 249); background-color: rgb(253, 253, 249);" size="1"&gt;    &lt;!-- / icon and title --&gt;       &lt;!-- message --&gt;   &lt;div id="post_message_5077750"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Arashi no yoru ni&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; (あらしのよるに, tạm dịch là "một đêm giông bão") là tiêu đề của tập sách tranh của tác giả Kimura Yūichi và cũng là tiêu đề của series bắt nguồn từ tập sách tranh này và nhiều tác phẩm nghe nhìn khác triển khai từ tập sách này. Họa sĩ của tập sách tranh này là Abe Hiroshi. Nội dung chủ yếu của tác phẩm xoay quanh mối quan hệ bằng hữu cảm động giữa Mei (dê) và Gabu (sói). Mối quan hệ này vượt ra khỏi quan hệ về chủng tộc và đi ngược lại với những tư tưởng truyền thống. Nhìn ở một khía cạnh nào đó thì tinh thần của tác phẩm này cổ súy cho việc luyến ái đa chủng tộc và đồng tính.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;table id="ncode_imageresizer_warning_1" class="ncode_imageresizer_warning" width="540"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="td1" width="20"&gt;&lt;img alt="" src="http://dienanh.net/forums/images/statusicon/wol_error.gif" width="16" border="0" height="16" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class="td2"&gt;Hình này đã được thu nhỏ. Click vào thanh này để xem hình gốc. Kích thước hình là 768x432.&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_1" src="http://ca4.upanh.com/11.946.16151453.XOZ0/ArashinoYorunimkv_001551633.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" width="540" border="0" height="303" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác phẩm này đã nhận được giải thưởng của nhà xuất bản Sankei (giải JR) lần thứ 42 vào năm 1995 và giải thưởng văn hóa của nhà xuất bản Kōdansha dành cho hạng mục sách tranh. Ban đầu, tác phẩm này chỉ gồm một phần và dự định kết thúc ở đó, nhưng sau khi phát hành nó nhận được nhiều lời tán thưởng từ phía công chúng nên tác giả đã viết thêm đến phần 6 là "Fubuki no ashita" và đã một lần kết thúc . Nhưng công chúng vẫn mến mộ cuồng nhiệt nên phần đặc biệt "Shiroi yami no hate de" ra đời và được dựng thành phim, sau đó nó được tính là phần tiếp theo của phần 6 trong series và series này kết thúc ở phần thứ 7 là "Mangetsu no yoru ni" (một đêm trăng tròn).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần đầu tiên trong series này cũng được đăng tải trong sách quốc ngữ của nhà xuất bản Mitsumura.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 2005, tác phẩm được Sugii Saburō dựng thành Anime, nội dung được cấu thành từ 7 phần của tập sách tranh và được biết đến ở Âu Mỹ với cái tên "One Stormy Night".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần dưới đây sẽ tiết lộ một số tình tiết trong bộ phim Anime cùng tên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;table id="ncode_imageresizer_warning_2" class="ncode_imageresizer_warning" width="540"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="td1" width="20"&gt;&lt;img alt="" src="http://dienanh.net/forums/images/statusicon/wol_error.gif" width="16" border="0" height="16" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class="td2"&gt;Hình này đã được thu nhỏ. Click vào thanh này để xem hình gốc. Kích thước hình là 768x432.&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_2" src="http://ca3.upanh.com/11.946.16151444.CPH0/ArashinoYorunimkv_004159072.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" width="540" border="0" height="303" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mở đầu phim là cảnh một bầy sói tấn công hai mẹ con dê đang gặm cỏ trong một buổi chiều vần vũ mây đen. Dê con (Mei) may mắn thoát được nhưng dê mẹ bị bầy sói ăn thịt. Khi Mei đã trưởng thành, vào một đêm mưa bão, số phận đã đưa chàng dê đến trú mưa trong một căn nhà nhỏ bỏ hoang trên đồng. Lúc đó cũng có một con sói đang trú mưa trong căn nhà. Nhưng vì tối trời và gió thổi mạnh nên cả hai đều không nhận ra nhau, không nhìn thấy nhau và không ngửi được mùi của nhau mà chỉ trò chuyện như hai người bạn đồng loại. Cả dê và sói đều cảm thấy dường như mình đã tìm được người bạn tâm đầu ý hợp trong đêm mưa bão này nên trước khi ra về đã hẹn nhau rằng, sáng hôm sau trời quang mây tạnh sẽ đến gặp nhau, cùng nhau đi chơi cả ngày. Và mật khẩu để nhận ra nhau là "Arashi no yoru ni" (một đêm giông bão). Hôm sau, cả dê và sói đều sửng sốt khi nhận ra thân phận thực sự của nhau. Nhưng cũng từ đó, giữa dê và sói đã nảy sinh tình bạn vượt qua khỏi ranh giới của chủng loài, của kẻ ăn thịt và con mồi. Nhưng tình bạn đó không được đồng loại của cả hai chấp nhận. Tình bạn bí mật giữa dê và sói bị bầy đàn biết được, cả hai bị ép buộc phải lợi dụng lẫn nhau để mang về "lợi ích cho cộng đồng". Dê phải giả vờ không biết gì để lừa sói nói 2005ra địa điểm săn mồi của bầy đàn và ngược lại, sói bị buộc phải moi thông tin bầy dê thường gặm cỏ ở đâu để bầy đàn của mình tổ chức săn mồi. Và như vậy là tình bạn trong sáng giữa dê và sói đã bị chính đồng loại của mình dồn đến bước đường cùng...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các tác phẩm&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nguyên tác (sách tranh)&lt;/b&gt; gồm 7 phần, được Kōdansha phát hành. Từ tháng 3 năm 2007 đến nay đã bán được hơn 300 vạn bản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    1. Arashi no yoru ni (một đêm giông bão): 1994&lt;br /&gt;    2. Aru hareta hi ni (một ngày nào đó đẹp trời): 1996&lt;br /&gt;    3. Kumo no kirema ni (giữa những đám mây): 1997&lt;br /&gt;    4. Kiri no naka de (trong sương mù):1999&lt;br /&gt;    5. Doshaburi no hi ni (một ngày mưa to): 2000&lt;br /&gt;    6. Fubuki no ashita (ngày mai mưa tuyết): 2002&lt;br /&gt;    7. Mangetsu no yoru ni (một đêm trăng tròn): 2005&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    * Phần đặc biệt: Shiroi yami no hate de (nơi tận cùng của đêm trắng):2004&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tác phẩm phái sinh&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    * Ōkami no akkanbei: tùy bút&lt;br /&gt;    * Arashi no yoru ni: luyến ái luận&lt;br /&gt;    * Arashi no yoru ni: bản Manga, tạp chí Gekkan Magajin Z&lt;br /&gt;    * Arashi no yoru ni: bản tiểu thuyết, nhà xuất bản Shōgakukan&lt;br /&gt;    * Sorezore no Arashi no yoru ni: tribute comic.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Phiên bản Anime&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;table id="ncode_imageresizer_warning_3" class="ncode_imageresizer_warning" width="540"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td class="td1" width="20"&gt;&lt;img alt="" src="http://dienanh.net/forums/images/statusicon/wol_error.gif" width="16" border="0" height="16" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;td class="td2"&gt;Hình này đã được thu nhỏ. Click vào thanh này để xem hình gốc. Kích thước hình là 768x432.&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_3" src="http://ca3.upanh.com/11.946.16151456.HUK0/ArashinoYorunimkv_002280028.jpg" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" width="540" border="0" height="303" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phiên bản Anime chiếu rạp được trình chiếu từ ngày 10 tháng 12 năm 2005 và đã thu về được 18,8 tỷ En Nhật. Đầu năm 2006, số khách đến rạp xem phim đã vượt quá 120 vạn người và phim này đoạt kỷ lục tác phẩm Anime chiếu rạp không dựng từ nguyên tác Manga có sức hút mạnh nhất. Tác phẩm Anime này cũng đã được công chiếu tại nhiều quốc gia khác nhau. Từ ngày 20 tháng 1 năm 2006, bộ phim đã xuất hiện qua 55 rạp chiếu phim ở Đài Loan và dự tính sẽ được chiếu ở 26 quốc gia bao gồm cả Đại Hàn và Anh quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phiên bản DVD được phát hành vào ngày 23 tháng 6 năm 2006 và bao gồm 2 chủng loại là Special Edition và Standard Edition. Tác phẩm Anime này đã ứng cử giải thưởng Academy Nhật Bản (lần thứ 30) dành cho phim Anime ưu tú nhất vào năm 2007.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Game Soft&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img id="ncode_imageresizer_container_4" src="http://ca4.upanh.com/11.946.16151573.ZPN0/nds_g_arashi.gif" alt="" onload="NcodeImageResizer.createOn(this);" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phiên bản game cùng tên được hãng Creative Core phát hành vào ngày 22 tháng 12 năm 2005 trên hệ máy Nintendō DS. Phiên bản game này có nội dung giống như bản sách tranh nhưng các cảnh chơi thì lại lấy từ bản Anime. Người chơi phải hoàn thành các mini game để làm câu chuyện tiến triển. Và dựa vào điểm số khi hoàn thành các mini game này mà kết cục của game cũng thay đổi, do đó có nhiều cái kết rất khác so với nguyên tác nhưng vẫn không làm mất đi tinh thần của tác phẩm vì chính tác giả Kimura Yūichi là người giám sát nội dung của game.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Anime truyền hình&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo dự định thì phiên bản Anime truyền hình sẽ được phát sóng vào năm 2010.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* &lt;a href="http://dienanh.net/forums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fwww.arayoru.com%2Fpc%2F" target="_blank" rel="nofollow"&gt;Trang chủ của Arashi no yoru ni, bản Anime&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;* &lt;a href="http://dienanh.net/forums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fwww.kimura-yuuichi.com%2F" target="_blank" rel="nofollow"&gt;Trang chủ của tác giả Kimura Yūichi&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;* &lt;a href="http://dienanh.net/forums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fjapanest.com%2Fforum%2Fshowthread.php%3Ft%3D29343" target="_blank" rel="nofollow"&gt;Phụ đề tiếng Việt cho bản Anime&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-3645041820132585463?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/3645041820132585463/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/anime-arashi-no-yoru-ni.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3645041820132585463'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/3645041820132585463'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/anime-arashi-no-yoru-ni.html' title='Anime: Arashi no yoru ni'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1475227428543266304</id><published>2010-08-16T08:59:00.002+09:00</published><updated>2010-08-16T09:01:55.522+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Chambara: Aragami Vietsub download</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;img src="http://ca3.upanh.com/11.749.15954868.HUK0/Aragamimp4_002182034.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;&lt;br /&gt;Aragami là một phim &lt;span style="font-weight: bold;"&gt;rẻ tiền&lt;/span&gt;. Rẻ tiền theo đúng nghĩa đen của từ này. Trong toàn bộ phim dài 70 phút, người ta không thấy sự xuất hiện thường xuyên của diễn viên nào khác hơn hai diễn viên nam chính và một diễn viên nữ trong một căn phòng, ngoại trừ đầu phim và cuối phim còn thấy thêm hai nhân vật khác nhưng cũng chỉ xuất hiện một cách thoáng qua. Hai diễn viên nam, một diễn viên nữ và cảnh quay từ đầu chí cuối cũng chỉ là một căn phòng. Thời gian quay của bộ phim kéo dài đúng một tuần. Vậy còn lý do gì để nó không rẻ tiền?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng Aragami lại lôi cuốn người xem đến không ngờ. Nó lôi cuốn bằng câu chuyện giữa hai người trong một căn phòng. Họ làm gì với nhau? Một thì nằm ườn trên sàn, một thì ngồi vật vã trên sàn. Nhân vật thứ ba chỉ lẳng lặng quan sát từng động thái của hai người và thỉnh thoảng chen vào một vài câu hất hàm bâng quơ. Bộ phim hấp dẫn ở từng câu thoại với những từ ngữ mang đầy kịch tính nóng bỏng, thỉnh thoảng lại chen vào một vài cảnh "&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;hành sự&lt;/span&gt;" giữa hai nhân vật. Cuối phim, một trong hai nhân vật chính đã phải từ giả cõi đời vì không còn chút sức lực nào sau khi "hành sự".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Chỉ đơn giản vậy thôi, nhưng từng tình huống trong Aragami đều khiến người xem phải suy nghĩ về cuộc sống. Nếu xem phim này mà không thấy hứng thú thì tôi tin chắc rằng bạn chỉ mới 1 tuổi. Những người đủ 18 tuổi trở lên, đã suy nghĩ chính chắn và không còn những cái nhìn lệch lạc về cuộc đời nữa chắc chắn sẽ thấy thú vị, không, thấy cực kỳ hưng phấn khi xem Aragami!!!!!!!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Download phim:&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;!-- BEGIN TEMPLATE: bbcode_code --&gt; &lt;div class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 36px;"&gt;&lt;a href="http://www.mediafire.com/?iyp4800cab61w" target="_blank"&gt;Mediafire&lt;/a&gt;&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;  &lt;!-- END TEMPLATE: bbcode_code --&gt;Chú ý: sau khi tải hết 6 phần rồi đặt chúng trong cùng thư mục, bạn dùng phần mềm &lt;b&gt;hjsplit&lt;/b&gt; để tiến hành nối chúng lại với nhau rồi xem bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;Xem Online&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;!-- BEGIN TEMPLATE: bbcode_code --&gt; &lt;div class="bbcode_container"&gt;  &lt;div class="bbcode_description"&gt;Code:&lt;/div&gt;  &lt;pre class="bbcode_code" style="height: 132px;"&gt;Phần 1: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=wjSmHOBR7F0" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 2: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=tdr2Fgq5U3c" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 3: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=4kfa-5SrvVU" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 4: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=lnXi8AvCqqU" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 5: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=MG-ko6BT7As" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 6: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=OVZhF1hwLtQ" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 7: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=XOIg-wfuom0" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 8: &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=51_LR2eMt8I" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần 9 (END): &lt;a href="http://www.youtube.com/watch?v=_qDJT41yXdk" target="_blank"&gt;Youtube&lt;/a&gt;&lt;/pre&gt; &lt;/div&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1475227428543266304?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1475227428543266304/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-aragami-vietsub-download.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1475227428543266304'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1475227428543266304'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-aragami-vietsub-download.html' title='Chambara: Aragami Vietsub download'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1380967500964616869</id><published>2010-08-15T19:41:00.001+09:00</published><updated>2010-08-15T19:41:37.375+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Chambara: Kakushiken Oninotsume</title><content type='html'>&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Kakushiken Oninotsume&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (隠し剣 鬼の爪), tạm dịch là "thanh ẩn kiếm: móng tay quỷ) là tên gọi của một đoản biên tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujisawa_Sh%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Fujisawa Shūhei (trang chưa được viết)"&gt;Fujisawa Shūhei&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;, đồng thời cũng là tên gọi của bộ phim được dựng từ tiểu thuyết này. Bài viết này tập trung vào phiên bản điện ảnh của đạo diễn &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamada_Y%C5%8Dji&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yamada Yōji (trang chưa được viết)"&gt;Yamada Yōji&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; và nam tài tử &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nagase_Masatoshi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Nagase Masatoshi (trang chưa được viết)"&gt;Nagase Masatoshi&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; thủ vai chính, được phát hành vào ngày 30 tháng 10 năm 2004.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;h2  style="color: rgb(255, 0, 0);font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Kh.C3.A1i_y.E1.BA.BFu"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;p  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Kakushiken Oninotsume là tác phẩm Jidaigeki thứ hai được dựng từ &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt_th%E1%BB%9Di_%C4%91%E1%BA%A1i&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tiểu thuyết thời đại (trang chưa được viết)"&gt;tiểu thuyết thời đại&lt;/a&gt; của nhà văn &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujisawa_Sh%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Fujisawa Shūhei (trang chưa được viết)"&gt;Fujisawa Shūhei&lt;/a&gt;. Tác phẩm này đã độc chiếm giải thưởng điện ảnh trong nước Nhật khi nó được phát hành và là phần tiếp theo của &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tasogare_no_Seibei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tasogare no Seibei (trang chưa được viết)"&gt;Tasogare no Seibei&lt;/a&gt;, tác phẩm đã được đề cử giải thưởng Akademy dành cho phim ngoại quốc hay nhất tại Mỹ quốc. Nội dung bộ phim lồng ghép từ "Kakushiken Oninotsume", một truyện ngắn trong series "Kakushiken" (thanh ẩn kiếm) của nhà văn &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujisawa_Sh%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Fujisawa Shūhei (trang chưa được viết)"&gt;Fujisawa Shūhei&lt;/a&gt; và truyện ngắn "Yuki akari" (ánh tuyết). Bộ phim xoay quanh câu chuyện của một võ sĩ phương Bắc trong thời khắc giao mùa của xã hội Nhật Bản, khi cái cũ bị phá bỏ và văn minh Tây âu được tiếp nhận. Toàn bộ phim là một góc nhìn nhân bản về thân phận con người và những mối quan hệ xã hội. Nhân vật chính trong phim luôn khổ tâm về giai cấp Samurai của mình và bị lôi kéo vào cuộc nổi loạn do một người bạn gây ra. Bên cạnh đó, anh còn phải chống chọi với dư luận của thiên hạ khi thầm yêu cô hầu gái, người có thân phận thấp hèn và đây là điều không thể chấp nhận được trong một xã hội vốn đặt nặng tôn ti trật tự.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;h2  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="C.C3.A1c_di.E1.BB.85n_vi.C3.AAn_ch.C3.ADnh"&gt;Các diễn viên chính&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul  style="font-family:arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nagase_Masatoshi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Nagase Masatoshi (trang chưa được viết)"&gt;Nagase Masatoshi&lt;/a&gt;: vai Katagiri Munezō&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Matsu_Takako&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Matsu Takako (trang chưa được viết)"&gt;Matsu Takako&lt;/a&gt;: vai Kie&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Yoshioka_Hidetaka" title="Yoshioka Hidetaka"&gt;Yoshioka Hidetaka&lt;/a&gt;: vai Shimada Samon&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ozawa_Yukuyoshi&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Ozawa Yukuyoshi (trang chưa được viết)"&gt;Ozawa Yukuyoshi&lt;/a&gt;: vai Hazama Yaichirō&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tabata_Tomoko&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tabata Tomoko (trang chưa được viết)"&gt;Tabata Tomoko&lt;/a&gt;: vai Shimada Shinō&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tanaka_Min&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tanaka Min (trang chưa được viết)"&gt;Tanaka Min&lt;/a&gt;: vai Toda Gensai&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;h2  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="Th.C3.B4ng_tin"&gt;Thông tin&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul  style="font-family:arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đạo diễn: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamada_Y%C5%8Dji&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yamada Yōji (trang chưa được viết)"&gt;Yamada Yōji&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Kịch bản: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamada_Y%C5%8Dji&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yamada Yōji (trang chưa được viết)"&gt;Yamada Yōji&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Asama_Yoshitaka&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Asama Yoshitaka (trang chưa được viết)"&gt;Asama Yoshitaka&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Nguyên tác: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Fujisawa_Sh%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Fujisawa Shūhei (trang chưa được viết)"&gt;Fujisawa Shūhei&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Hãng sản xuất: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sh%C5%8Dchiku&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shōchiku (trang chưa được viết)"&gt;Shōchiku&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Giám đốc sản xuất: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamamoto_Ichir%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yamamoto Ichirō (trang chưa được viết)"&gt;Yamamoto Ichirō&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Giám sát mỹ thuật: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nishioka_Yoshinobu&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Nishioka Yoshinobu (trang chưa được viết)"&gt;Nishioka Yoshinobu&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chỉ đạo từ địa phương: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Yamasaki_Seisuke&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Yamasaki Seisuke (trang chưa được viết)"&gt;Yamasaki Seisuke&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Chỉ đạo võ thuật: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kuzeshi_Ch%C5%8Dkai&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kuzeshi Chōkai (trang chưa được viết)"&gt;Kuzeshi Chōkai&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Office_Big&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Office Big (trang chưa được viết)"&gt;Office Big&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Thời lượng: 131 phút&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Ngôn ngữ: tiếng Nhật&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;h2  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="C.C3.A1c_gi.E1.BA.A3i_th.C6.B0.E1.BB.9Fng"&gt;Các giải thưởng&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul  style="font-family:arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nippon_Academy_sh%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Nippon Academy shō (trang chưa được viết)"&gt;Nippon Academy shō&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Giải thưởng phim ưu tú nhất tại liên hoan phim Zimbabwe&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;h2  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="M.E1.BB.A5c_li.C3.AAn_quan"&gt;Mục liên quan&lt;/span&gt;&lt;/span&gt; &lt;/h2&gt; &lt;ul  style="font-family:arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Bushi_no_Ichibun&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Bushi no Ichibun (trang chưa được viết)"&gt;Bushi no Ichibun&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;h2  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="Li.C3.AAn_k.E1.BA.BFt_ngo.C3.A0i"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul  style="font-family:arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vn.360plus.yahoo.com/nippon_bujutsu/article?mid=217" class="external text" rel="nofollow"&gt;Preview Kakushiken Oninotsume (tiếng Việt)&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1380967500964616869?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1380967500964616869/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-kakushiken-oninotsume.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1380967500964616869'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1380967500964616869'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-kakushiken-oninotsume.html' title='Chambara: Kakushiken Oninotsume'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-7732102175243958135</id><published>2010-08-15T17:22:00.001+09:00</published><updated>2010-08-15T17:24:48.140+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chambara'/><title type='text'>Chambara: Aragami</title><content type='html'>&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;Aragami&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; (荒神) là một bộ phim hành động có kinh phí thấp được sản xuất vào năm 2003 của đạo diễn Nhật Bản &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kitamura_Ry%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kitamura Ryūhei (trang chưa được viết)"&gt;Kitamura Ryūhei&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt;. Bộ phim này là tác phẩm cạnh tranh của Kitamura trong Duel Project, một project do nhà sản xuất &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kawai_Shinya&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kawai Shinya (trang chưa được viết)"&gt;Kawai Shinya&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; đề xướng mà trong đó, Kitamura và đạo diễn &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tsutsumi_Yukihiko&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Tsutsumi Yukihiko (trang chưa được viết)"&gt;Tsutsumi Yukihiko&lt;/a&gt;&lt;span style="font-family: arial;"&gt; làm những bộ phim chi phí thấp cạnh tranh với nhau.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;h3 style="font-family: arial; color: rgb(255, 0, 0);"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span class="mw-headline" id="Duel_Project"&gt;Duel Project&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Trong một đêm uống rượu, nhà sản xuất Kawai Shinya đã đề ra một cuộc thách thức đối với hai đạo diễn &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kitamura_Ry%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kitamura Ryūhei (trang chưa được viết)"&gt;Kitamura Ryūhei&lt;/a&gt;  và Tsutsumi Yukihiko mà phần thắng thuộc về người làm ra bộ phim hay  nhất chỉ với hai diễn viên chính, trong một khung cảnh quay và thời gian  kéo dài trong một tuần. Aragami là tác phẩm đầu tiên của đạo diễn  Kitamura trong project này. Để đáp trả, Tsutsumi Yukihiko cũng tung ra  bộ phim &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=2LDK&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="2LDK (trang chưa được viết)"&gt;2LDK&lt;/a&gt;, một bộ phim về một nữ diễn viên và một người mẫu Gravure ở chung một căn phòng với nhau.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;h3 style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span class="editsection"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="N.E1.BB.99i_dung"&gt;Nội dung&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;p style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Phim mở đầu bằng cảnh hai Samurai trẻ bị thương nặng nề từ chiến  trường tìm đến một ngôi đền bí ẩn vào một đêm mưa bão. Chủ nhân của ngôi  đền này là một kiếm khách và một người phụ nữ kỳ lạ. Khi tỉnh dậy, một  Samurai hay tin bạn mình đã qua đời vì vết thương không thể cứu chữa.  Ban đầu, chủ nhân của ngôi đền tỏ ra rất hiếu khách và câu chuyện dẫn  dắt người xem đến những mâu thuẫn giữa chàng Samurai trẻ và kiếm khách  bí ẩn thông qua những câu thoại đầy lý tính trong khi họ ngồi uống rượu  với nhau. Về sau, vị chủ đền tiết lộ rằng mình chính là &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Miyamoto_Musashi" title="Miyamoto Musashi"&gt;Miyamoto Musashi&lt;/a&gt;,  kiếm khách vô song bất bại trong lịch sử và đồng thời cũng là Aragami,  vị thần của võ nghệ và chiến đấu. Aragami yêu cầu chàng Samurai trẻ ban  cho mình cái chết vì mình đã sống quá lâu và không thể nào chết một cách  tự nhiên được. Ban đầu chàng trai trẻ tìm cách trốn chạy khỏi ngôi đền  và lời thách đấu của Aragami, nhưng rồi cũng dần chấp nhận số phận của  mình khi nhận ra bản thân mình là ai... Chỉ với một địa điểm quay, hai  diễn viên chính, Aragami thực sự là một bộ phim rẻ tiền theo nghĩa đen  nhưng lại cuốn hút người xem ở tài dàn dựng, dẫn dắt của đạo diễn.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;h3 style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span class="editsection"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="Th.C3.B4ng_tin"&gt;Thông tin&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h3&gt; &lt;ul style="font-family: arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Đạo diễn: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kitamura_Ry%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kitamura Ryūhei (trang chưa được viết)"&gt;Kitamura Ryūhei&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Sản xuất: Kawai Shinya&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Kịch bản: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kitamura_Ry%C5%ABhei&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Kitamura Ryūhei (trang chưa được viết)"&gt;Kitamura Ryūhei&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Diễn viên: &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C5%8Csawa_Takao&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Ōsawa Takao (trang chưa được viết)"&gt;Ōsawa Takao&lt;/a&gt;, &lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Kat%C5%8D_Masaya&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Katō Masaya (trang chưa được viết)"&gt;Katō Masaya&lt;/a&gt;, Uotani Kanae&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Ngày phát hành: 27-3-2003&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Thời lượng: 70 phút&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;Ngôn ngữ: tiếng Nhật&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;h2 style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;span class="editsection"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="color: rgb(255, 0, 0);" class="mw-headline" id="Li.C3.AAn_k.E1.BA.BFt_ngo.C3.A0i"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/h2&gt; &lt;ul style="font-family: arial;"&gt;&lt;li&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;a href="http://vn.360plus.yahoo.com/nippon_bujutsu/article?mid=189" class="external text" rel="nofollow"&gt;Preview Aragami (tiếng Việt)&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;span style="font-size:100%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-7732102175243958135?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/7732102175243958135/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-aragami.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7732102175243958135'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/7732102175243958135'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/08/chambara-aragami.html' title='Chambara: Aragami'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-1664093586675515781</id><published>2010-06-20T08:44:00.004+09:00</published><updated>2012-01-11T22:47:35.175+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bunka'/><title type='text'>God of Japan: Raijin</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial;"&gt;Bài này do Như Thị Duyên dịch từ Wikipedia Japan&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;                             © 2010&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Lôi thần&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;Raijin&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (雷神, đọc Âm Hán Việt là "Lôi thần") là vị thần sấm chớp trong tín ngưỡng dân gian và Thần đạo Nhật Bản. Từ Raijin được thành lập bằng cách ghép giữa hai chữ Hán: "Rai" (lôi) và "Shin" (thần). Lôi thần còn được gọi bằng những cái tên khác như: Raiden sama (雷電様), ngài lôi điện; Narukami (鳴神), thần rền vang; Raikō (雷公), lôi công.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca0.upanh.com/8.437.12661196.NEU0/Raizin.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Raijin trong tranh của họa sĩ Tawaraya Sōtatsu&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;font-size:130%;"  &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Quan niệm dân gian&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Quan niệm dân gian cho rằng &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Sugawara no Michizane&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;, một quý tộc, học giả, thi nhân và là một chính trị gia thời Heian sau khi chết đã hóa thân thành vị thần sấm chớp ngụ nơi trời cao. Trong dân gian thường gọi lôi thần là "Kaminari sama" (ngài sấm chớp) với ý sợ sệt và thân mật. Truyền thuyết cho rằng lôi thần giáng trần ăn rốn con người nên vào mùa hè, khi trẻ con cởi trần phơi bụng thì người lớn thường dọa rằng "coi chừng lôi thần ăn mất rốn". Người ta cho rằng vào thời gian này, khi sấm chớp xuất hiện cùng đợt không khí lạnh thì trẻ con dễ bị đau bụng nếu để rốn trần nên bịa ra câu chuyện lôi thần ăn rốn để dọa chúng. Dân gian còn tin rằng để tránh không bị Raijin ăn mất rốn thì có thể chui vào trong màn hoặc hô lên từ "Kuwabara". Sugawara no Michizane sau khi chết biến thành thần sấm giáng tai họa xuống kinh đô nhưng không bao giờ động đến Kuwabara là lãnh địa của mình lúc sinh thời. Đối lại với Raijin thì có &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Fūjin&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;, vị thần cai quản ngọn gió.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca2.upanh.com/8.437.12661194.PSD0/Itcho_Hanabusa_The_Falling_Thunder_God.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Raijin trong tranh của họa sĩ Hanabusa Itchō&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style=";font-family:arial;font-size:130%;"  &gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Hình dạng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tại Nhật Bản, Raijin được miêu tả với hình tướng dữ tợn của loài quỷ sứ mà nổi tiếng nhất là trong bức bình phong vẽ lôi thần và phong thần (Fūjin Raijin Zu) của Tawaraya Sōtatsu, một họa sĩ sống vào đầu thời Edo. Trong bình phong, Raijin được mô tả với cái đầu mọc sừng trâu, mặt quỷ, mình quấn khố da hổ, tay cầm trống Taiko phát ra sấm chớp khi gõ. Đây là hình dáng quen thuộc của lôi thần đối với người Nhật Bản. Hình dáng này có liên quan đến quỷ môn (Ushitora, tức là hướng Đông Bắc) trong đạo Âm Dương. Khi sấm chớp giáng xuống thì con "lôi thú" (&lt;/span&gt;&lt;b face="arial"&gt;Raijū&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;) cũng theo đó mà giáng trần. Hình ảnh lôi thần còn được miêu tả với vẻ hài hước trong tranh của họa sĩ vẽ tranh phong tục Ōtsue. Tranh vẽ lôi thần dùng một cái móc để kéo cái trống Taiko do mình đánh rơi xuống trần đầy chất uy mặc.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;img style="font-family: arial;" src="http://ca2.upanh.com/8.437.12661190.KUX0/800pxFujinraijintawaraya.jpg" alt="" border="0" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Fūjin và Raijin trong bình phong&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Tế lễ ở các đền chùa&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Kamowake Ikazuchi Jinja thờ lôi thần.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Cung Tenman (Tenmangū) thờ Sugawara no Michizane.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Shiogama Jinja thờ lôi thần.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Raiden Jinja thờ Hỏa lôi thần (Hono Ikazuchi no kami), Đại lôi thần (Ōikazuchi no kami) và Biệt lôi thần (Wake Ikazuchi no kami).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Kabasan Saenazumi Jinja thờ Bát lôi thần (Yatsu Ikatsuchi no kami).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * Fuji Jinja thờ lôi thần.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Các lôi thần nổi tiếng trong văn hóa Thế giới&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Zeus trong thần thoại Hy Lạp.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Jupiter trong thần thoại La Mã.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Thor trong thần thoại Bắc Âu.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;     * Lôi công (Bính âm Lei Gong), Lôi tổ, lôi sư trong thần thoại Trung Hoa.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Lôi thần trong văn hóa đại chúng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Tại phương Tây, Raijin được biết đến nhiều qua hình ảnh của vị thần sấm chớp Raiden, một nhân vật trong video game Mortal Kombat. Tại Nhật, Raijin và Fūjin được miêu tả hài hước như là hai thế lực đối đầu nhau trong Manga Yaiba của họa sĩ Aoyama Gōshō. Raijin còn được biết đến qua hình ảnh của nhân vật Raijin chuyên sử dụng ma thuật sấm chớp trong phiên bản thứ 8 của series video game Final Fantasy.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; * &lt;/span&gt;&lt;a style="font-family: arial;" href="http://origami.gr.jp/%7Ehojyo/125thunder.html" target="_blank"&gt;Tượng Raijin qua mẫu gấp giấy Origami của nghệ sĩ Hōjō Takashi, được gấp từ một tờ giấy vuông không cắt dán&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-1664093586675515781?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/1664093586675515781/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/06/god-of-japan-raijin.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1664093586675515781'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/1664093586675515781'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/06/god-of-japan-raijin.html' title='God of Japan: Raijin'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-360188680493247369</id><published>2010-06-20T00:42:00.003+09:00</published><updated>2012-01-11T22:48:25.160+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bunka'/><title type='text'>Japanese Monster: Kasha</title><content type='html'>&lt;div class="postrow has_after_content"  style="font-family:arial;"&gt;                                                                     &lt;div class="content"&gt;      &lt;div id="post_message_352910"&gt;       &lt;blockquote class="postcontent restore"&gt;        &lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Kasha&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Kasha&lt;/b&gt; (火車, âm Hán Việt là "hỏa xa", một cách viết khác nữa là 化車, âm Hán Việt là "hóa xa") là một loại yêu quái trong quan niệm dân gian Nhật Bản, được cho là cướp thi hài của những người tạo ác nghiệp khi còn sống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://ca3.upanh.com/8.401.12630219.KUX0/455pxSekienKasha.jpg" rel="lyteshow[352910]"&gt;&lt;img src="http://ca3.upanh.com/8.401.12630219.KUX0/455pxSekienKasha.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color:RoyalBlue;"&gt;Kasha trong tranh Gazu Hyakki Yakō của họa sĩ Toriyama Sekien&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kasha được cho là loài yêu quái cướp xác chết tại nghĩa địa hay các đám ma và những câu chuyện liên quan đến nó có mặt khắp nơi trên nước Nhật. Người ta cho rằng bản thể của Kasha chính là &lt;b&gt;&lt;span style="color:RoyalBlue;"&gt;Nekomata&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;, con mèo sống lâu thành tinh biến hóa nên.[1] Trong chuyện cổ "Neko danka" (thí chủ mèo) và truyện "&lt;b&gt;Kasha baba&lt;/b&gt;" (lão bà Kasha) ở thành phố Yamasaki, xứ Harima (nay là tỉnh Hyōgo) cũng xuất hiện Kasha với những điểm tương đồng.[2]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại làng Kamikuishiki, tỉnh Yamanashi, người ta cử hành tang lễ hai lần để phòng ngừa bị Kasha sống trong ngôi chùa gần đó đến cướp xác. Lần đầu người ta nhét đầy đá vào quan tài để phòng ngừa Kasha cướp xác người chết. Tại thành phố Yawatahama, tỉnh Ehime, người ta còn tin rằng nếu để một con dao cạo đầu lên trên quan tài thì sẽ không bị Kasha đến bắt xác. Tại làng Saigō, tỉnh Miyazaki thì trước khi mang quan tài ra khỏi nhà, người ta đọc hai lần câu "Baku niha kuwasen" (không để cho con Baku ăn xác. Baku là con thú huyền thoại ăn giấc mơ) hoặc câu "Kasha niha kuwasen" (không để Kasha ăn xác). Còn tại làng Kumagai, tỉnh Okayama thì người ta thổi một loại nhạc khí cổ truyền gọi là Myōhachi để tránh Kasha trong đám tang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;&lt;b&gt;Kasha trong thư tịch cổ&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mây và sấm cướp xác chết trong đám tang ở dinh thự Ueda, trích "Kii Zōtanshū"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Kii Zōtanshū", tập sách ghi chép những chuyện kỳ lạ đầu thời Edo (không rõ tác giả) có đoạn chép rằng Kasha xuất hiện trong đám tang ở dinh thự Ueda, xứ Echigo, toan cướp thi hài người chết. Kasha được miêu tả với hình dáng của Lôi thần, mình quấn khố da hổ, tay cầm trống Taiko tạo sấm chớp và xuất hiện cùng mưa gió (xem hình).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://ca1.upanh.com/8.401.12630221.KUX0/Kiizotanshu_Kasha.jpg" rel="lyteshow[352910]"&gt;&lt;img src="http://ca1.upanh.com/8.401.12630221.KUX0/Kiizotanshu_Kasha.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Mây và sấm kéo đến cướp xác chết trong đám tang ở dinh thự Ueda&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện Thượng tọa On-yo theo Kasha về Cực lạc trong "Shinchomonjū"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Shinchomonjū", tập tùy bút về những chuyện lạ do Kamiya Yōyūken ghi chép vào giữa thời Edo, ở phần thứ năm có ghi rằng vào ngày mùng 2 tháng 7 năm Bunmei thứ 11, Thượng tọa On-yo ở &lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;chùa Tăng thượng&lt;/span&gt;&lt;/b&gt; (Zōjōji) được Kasha đón về cõi Cực lạc. Tuy nhiên Kasha ở đây không phải là sứ giả địa ngục mà là sứ giả của Phật Di Đà đến tiếp dẫn về cõi tịnh độ Tây phương. Bản thân Thượng tọa On-yo cũng tin rằng tùy vào lòng tin nơi cõi tịnh độ mà hình dạng Kasha cũng khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện thấy Kasha, thân dưới thối rữa trong "Shinchomonjū"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong tập tùy bút "Shinchomonjū", ở phần thứ mười một có chép rằng, tại xứ Musashino có người hàng rượu tên là Anbei một hôm bỗng chạy ra đường kêu lên rằng "Kasha đến!" rồi lăn quay ra đất. Lúc người nhà chạy đến thì anh ta đã thất thần, không nói nên lời. Anbei ngủ li bì đến mười ngày sau thì chết, lúc này phần thân dưới đã thối rữa cả ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện chém cánh tay quỷ trong đám tang&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng trong "Shinchomonjū", ở phần thứ mười có ghi rằng có Samurai tên là Matsudaira Goemon. Một lần nọ đi dự đám tang của người anh em họ sấm vang chớp giật, từ trong đám mây đen thò ra cánh tay gấu toan cướp lấy thi hài. Võ sĩ tuốt gươm chém đứt cánh tay thì thấy nó phủ đầy lông cứng như thép, bàn tay có ba móng sắc lẹm như dao cạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện mây đen bắt lão bà keo kiệt&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Shinchomonjū", ở phần thứ mười bốn có chép rằng phiên chủ xứ Hizen một hôm đi kinh hành đến xứ Bizen bỗng nghe đằng xa có tiếng than vãn "ta buồn quá" từ trong đám mây đen. Thấy bàn chân người thò ra từ đám mây, các gia thần nắm lấy kéo xuống thì hóa ra là xác chết của một bà lão. Hỏi thăm dân làng lân cận thì được biết bà lão này rất keo kiệt bủn xỉn, bị người chung quanh khinh ghét. Một lần bà lão vào nhà xí trở ra thì có đám mây đen trên trời xà xuống mang đi mất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Kasha trong "Bōsō Manroku"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tập tùy bút "Bōsō Manroku" của thầy lang Chihara Kyosai thời Edo có ghi rằng: trong đám tang đột nhiên nổi cơn mưa gió, nắp quan bị thổi tung, xác người biến mất thì biết là có Kasha từ địa ngục đến, khiến người người đều lo sợ, hỗ thẹn. Có khi Kasha xé xác người chết, bêu trên cây, phơi trên đá. Đó là do con thú Kasha xuất hiện nhiều ở Trung Quốc và Nhật Bản, sách này viết tên là 魍魎 (một cách đọc là "Mōryō") nhưng đọc là "Kasha" (xem hình).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://ca2.upanh.com/8.401.12630222.ZPN0/Kyosai_Kasha.jpg" rel="lyteshow[352910]"&gt;&lt;img src="http://ca2.upanh.com/8.401.12630222.ZPN0/Kyosai_Kasha.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Kasha trong "Bōsō Manroku" của tác giả Chihara Kyosai&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chuyện Hòa thượng Hokkō trong "Hokuetsu Seppu"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong "Hokuetsu Seppu", tập sách ghi chép về phong tục, quang cảnh xứ Echigo có ghi rằng vào năm Tenshō, tại xứ này có đám ma đột nhiên xuất hiện hỏa cùng cùng gió lốc bay đến bên quan tài. Từ trong đốm lửa xuất hiện con mèo hai đuôi khổng lồ. Nó toan cướp lấy quan tài thì bị Hòa thượng Hokkō ở chùa Vân Động Am (Untōan) dùng pháp lực và pháp cụ Như ý đánh bại. Áo cà sa của Hòa thượng được gọi là "cà sa đối trị Kasha" và được truyền lại cho hậu thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Cùng loại với Kasha&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại thành phố Tōno, tỉnh Iwate có yêu quái mang hình dáng của người đàn bà, sống ở dãy núi bên ngọn đèo kéo dài từ làng Ayaori cho đến làng Miyamori. Người đàn bà này được gọi là Kyasha, chuyên cướp xác chết trong quan tài, đào bới nghĩa địa để ăn thịt xác chết. Tại tỉnh Nagano cũng có yêu quái tên là Kyasha, chuyên cướp xác chết trong đám tang. Còn tại tỉnh Yamagata, ngày xưa có một người đàn ông giàu có, khi chết bị con mèo Kasha đến cướp xác nhưng nhờ có Hòa thượng ở chùa Thanh Nguyên (Seigenji) mà thi hài được bảo vệ. Cái đuôi mèo còn sót lại được xem là bùa trừ ma và được thờ cúng ở Quan Âm đường, đến dịp Tết hàng năm thì được công khai để quần chúng chiêm bái.[3] Tại làng Akihata ở tỉnh Gumma có loài yêu quái ăn thịt người chết được gọi là Temmaru. Người ta đặt một chiếc giỏ tre lên trên ngôi mộ để ngăn không cho nó đến cướp xác.[4] Còn tại đảo Himaka, tỉnh Aichi thì người ta gọi Kasha bằng cái tên "Madōkusha" và tin rằng đó là do con mèo già trăm tuổi thành tinh biến hóa thành.[5] Tại thành phố Imizu, tỉnh Kagoshima thì người ta cho rằng có loài yêu quái tên gọi Kimotori (nghĩa là "lấy gan") thường xuất hiện bên mồ mả người chết sau đám tang.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khảo sát&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xưa nay người Nhật vẫn tin rằng mèo là con vật nhiều ma tính, người ta quan niệm rằng "không được để mèo lại gần người chết", "nếu con mèo nhảy qua quan tài thì xác chết bên trong sẽ bật dậy". Ngoài ra, trong tập sách "Uji Shūi Monogatari" vào đầu thế kỷ 13 có chép rằng bọn ngục tốt (ác quỷ tra tấn người chết ở địa ngục) kéo cỗ xe lửa cháy rực đi bắt thi hài của tội nhân sau khi chết hoặc bắt tội nhân khi vẫn còn sống. Vì vậy có thuyết cho rằng quan niệm về Kasha là sự pha trộn giữa quan niệm về ma tính của loài mèo và chuyện cỗ xe lửa cướp xác tử tù.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://ca0.upanh.com/8.370.12601016.ZPN0/Suuhi_Kasha.jpg" rel="lyteshow[352910]"&gt;&lt;img src="http://ca0.upanh.com/8.370.12601016.ZPN0/Suuhi_Kasha.jpg" style="max-width: 700px; max-height: 5000px; cursor: pointer;" alt="" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;span style="color:Blue;"&gt;Cỗ xe lửa trong "Hyakkai Zukan" của họa sĩ Sawaki Sūhi&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra cũng có thuyết cho rằng quan niệm yêu quái Kappa dìm người ta chết đuối rồi ăn nội tạng từ đường hậu môn cũng được sinh ra từ ảnh hưởng của Kasha. [6]Người Trung Quốc cho rằng có loài yêu quái thích ăn gan của xác chết, tên của nó được viết là 魍魎 (đọc âm Nhật là "Mōryō") nhưng khi đến Nhật thì nó bị nhầm lẫn với Kasha. Và như đã thuật bên trên, y sĩ Chihara Kyosai gọi tên con thú này trong "Bōsō Manroku" là "Kasha" dù vẫn viết là 魍魎. Còn trong tập tùy bút Mimi Bukuro" của Negishi Shizumori vào giữa thời Edo thì tên của yêu quái cướp xác chết là "Mōryō".[7]&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Kasha trong tiếng Nhật&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong tiếng Nhật hiện đại có nhiều thành ngữ phái sinh từ quan niệm về Kasha. Thành ngữ "Hi no kuruma" (cỗ xe lửa) được dùng để chỉ trạng thái túng quẫn về mặt kinh tế. Thành ngữ này bắt nguồn từ chuyện cỗ xe lửa do âm binh kéo đi hành hạ người chết. Còn tại xứ Harima và các vùng phụ cận, người ta dùng thành ngữ "Kasha Baba" (lão bà Kasha) để rủa bà già độc ác, cú bẩn như loài mèo ma. Ngoài ra trong làng chơi, từ Kasha (hoa xa) được dùng để chỉ mụ tú bà quản lý các du nữ.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Cước chú&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; 1. ^ "Yōkai Jiten", Murakami Kenji biên soạn, Mainichi Shimbun xuất bản năm 2000, trang 103~104&lt;br /&gt; 2. ^ "Harima no Minzoku Tanbō" (điều tra phong tục xứ Harima) do Kōbe Shimbun xuất bản năm 2005, trang 157~158&lt;br /&gt; 3. ^ "Tōhoku Yōkai Zukan", Yamaguchi Bintarō biên soạn, Mumyōsha xuất bản năm 1991&lt;br /&gt; 4. ^ "Yōkai Jiten" trang 236&lt;br /&gt; 5. ^ "Yōkai Jiten" trang 312&lt;br /&gt; 6. ^ "Yōkai Jiten" trang 147&lt;br /&gt; 7. ^ Mimi Bukuro, Negishi Shizumori biên soạn, Iwanami Shoten xuất bản năm 1991, trang 125&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Liên kết ngoài&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://vn.360plus.yahoo.com/nippon_bujutsu/article?mid=152&amp;amp;fid=-1" target="_blank"&gt;Kasha trong tiếng Nhật&lt;/a&gt;       &lt;/blockquote&gt;      &lt;/div&gt;            &lt;/div&gt;    &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/225269385787112915-360188680493247369?l=daiwakon.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://daiwakon.blogspot.com/feeds/360188680493247369/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/06/japanese-monster-kasha.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/360188680493247369'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/225269385787112915/posts/default/360188680493247369'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://daiwakon.blogspot.com/2010/06/japanese-monster-kasha.html' title='Japanese Monster: Kasha'/><author><name>a</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='24' src='http://4.bp.blogspot.com/-EbRNetlwn84/TfNVX41DypI/AAAAAAAAACw/FMH0ssQRCDs/s220/P1180690.JPG'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-225269385787112915.post-4088784064849228267</id><published>2010-06-19T17:28:00.001+09:00</published><updated>2012-01-11T22:48:53.265+09:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Bunka'/><title type='text'>Hyakkai Zukan</title><content type='html'>&lt;span style="font-size:180%;"&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Giới thiệu tập tranh Hyakkai Zukan&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;Hyakkai Zukan&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; (ja:百怪図巻) là tập tranh cuộn về chủ đề yêu quái của  họa sĩ &lt;/span&gt;&lt;span style=";font-family:arial;color:Red;"  &gt;&lt;b&gt;Sawaki Sūhi &lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;được ấn hành vào năm  thứ 2 niên hiệu Gembun (1737). Họa sĩ này sống vào giữa thời Edo và là  đồ đệ của &lt;/span&gt;&lt;b  style="font-family:arial;"&gt;&lt;span style="color:SeaGreen;"&gt;Hanabusa Itchō&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt;, một họa  sĩ danh tiếng thời Genroku. Tên của tập tác phẩm có nghĩa là "tranh cuộn  về trăm yêu quái".&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b face="arial"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Khái yếu&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:arial;"&gt; Ở phần cuối của tập tranh, tác giả Sawaki có đề rằng ông chỉ sao chép  lại bản sao chép của họa sĩ Kohōgen Motonobu. Kohōgen là hiệu của Kanō  Motonobu, một họa sĩ danh tiếng của họa phái Kanō sống vào  thờiMuromachi. Tập tranh này gồm 30 bức về đề tài yêu quái với nét vẽ  tinh tế và được đánh giá là tác phẩm có chất lượng nhất trong số các tác  phẩm về yêu quái thời cổ, là chuẩn mực cho các tác phẩm yêu quái khác.  Tập tác phẩm này hiện được lưu trữ tại viện bảo tàng tỉnh Fukuoka. Thời  Edo còn một họa sĩ về yêu quái khác là Toriyama Sekien. Họa gia này nổi  tiếng với tập 30 tranh yêu quái là "Gazu Hyakki Yakō". Người ta cho rằng  khi sáng tác nên tác phẩm này, Sekien đã tham khảo "Hyakkai Zukan" của  Sawaki hoặc những tác phẩm tương tự.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;&lt;b style="font-family: arial;"&gt;&lt;span style="color:Red;"&gt;Danh mục các tác phẩm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;table class="gallery" cellpadding="0" cellspacing="0"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td&gt;&lt;div class="gallerybox" style="width: 155px;"&gt; &lt;div class="thumb" style="padding: 19px 0pt; width: 150px;"&gt; &lt;div style="margin-left: auto; margin-right: auto; width: 120px;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Suushi_Mikoshi-nyudo.jpg" class="image"&gt;&lt;img alt="" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cb/Suushi_Mikoshi-nyudo.jpg/120px-Suushi_Mikoshi-nyudo.jpg" width="120" height="107" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div class="gallerytext"&gt; &lt;p&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Mikoshi_Ny%C5%ABd%C5%8D&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Mikoshi Nyūdō (trang chưa được viết)"&gt;Mikoshi Nyūdō&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;/td&gt; &lt;td&gt; &lt;div class="gallerybox" style="width: 155px;"&gt; &lt;div class="thumb" style="padding: 13px 0pt; width: 150px;"&gt; &lt;div style="margin-left: auto; margin-right: auto; width: 120px;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Suushi_Shokera.jpg" class="image"&gt;&lt;img alt="" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/3/32/Suushi_Shokera.jpg/62px-Suushi_Shokera.jpg" width="62" height="120" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div class="gallerytext"&gt; &lt;p&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Sh%C5%8Dkera&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Shōkera (trang chưa được viết)"&gt;Shōkera&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;/td&gt; &lt;td&gt; &lt;div class="gallerybox" style="width: 155px;"&gt; &lt;div class="thumb" style="padding: 13px 0pt; width: 150px;"&gt; &lt;div style="margin-left: auto; margin-right: auto; width: 120px;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Suushi_Hyosube.jpg" class="image"&gt;&lt;img alt="" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/c4/Suushi_Hyosube.jpg/53px-Suushi_Hyosube.jpg" width="53" height="119" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div class="gallerytext"&gt; &lt;p&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Hy%C5%8Dsube&amp;amp;action=edit&amp;amp;redlink=1" class="new" title="Hyōsube (trang chưa được viết)"&gt;Hyōsube&lt;/a&gt;&lt;/p&gt; &lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;/td&gt; &lt;td&gt; &lt;div class="gallerybox" style="width: 155px;"&gt; &lt;div class="thumb" style="padding: 13px 0pt; width: 150px;"&gt; &lt;div style="margin-left: auto; margin-right: auto; width: 120px;"&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Suuhi_Nure-onna.jpg" class="image"&gt;&lt;img alt="" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/fe/Suuhi_Nure-onna.jpg/120px-Suuhi_Nure-onna.jpg" width="120" height="119" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt; &lt;/div&gt; &lt;div class="gallerytext"&gt; &lt;p&gt;&lt;a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nure_Onna&amp;amp
