Pages
Tuesday, December 13, 2011
Thuyền đá
(tạm dịch: cuối cùng thuyền đá cũng
không chịu nổi lên)
Đây là câu nói nổi tiếng của Yagyū Muneyoshi,
hiệu là Sekishūsai (Sekishū là cách đọc khác của
Ishi no fune, thuyền đá) và cũng là quan điểm sống thú vị của Sekishūsai.
Xã hội Nhật Bản đương thời là một xã hội trọng võ nghệ.
Phàm kẻ nào biết chút võ công, kiếm pháp đều có thể mở được đường công danh hiển hách, được các chư hầu lớn
nhỏ mời gọi. Có người xuất thân với bàn tay trắng, dùng võ nghệ mà được hiển hách với bổng lộc trăm vạn hộc. Kẻ biết võ thời đó, có chí thì theo thờ các lãnh chúa (Daimyō), thất chí thì mở võ đường dạy con em các Samurai, lãnh chúa hay bá tánh trong vùng để kiếm cơm qua ngày. Tựu trung, những kẻ cầm kiếm đương thời và biết chút "nghệ" thì không phải lo đến cái ăn. Và được một vị lãnh chúa, Tướng quân nào đó mời gọi để nhận bổng lộc nghìn hộc cũng là mơ ước của lắm kẻ cầm kiếm đương thời.
Nhưng đối với Yagyū Sekishūsai thì lại khác, từ lúc chỉ là một lãnh chúa nhỏ ở xứ Yamato, ông đã được lắm chư hầu chèo kéo nhưng đều từ chối hết.
Họ Yagyū vốn là một hào tộc ở xứ Yamato nhỏ bé ở miền Tây nước Nhật. Từ thời Chiến quốc, đã có lắm thế lực nhòm ngó, muốn thôn tính vùng đất này nhưng nhờ vào tài lãnh đạo khéo léo của Sekishūsai mà xứ này chưa một lần trải qua nạn binh đao.
Thời Chiến quốc, quần hùng cát cứ bốn phương và thôn tính lẫn nhau nên không ai nói trước được kẻ đứng vững sau cùng là người nào. Vì vậy Sekishūsai không chọn theo hầu một vị Daimyō nào cả là một điều hợp lý, dù nó đi ngược lại với lòng ham muốn công danh, sự nghiệp của phần đông kẻ võ nghệ thời đó. Nếu theo một chư hầu nào, đến khi chư hầu đó thất thế thì xứ sở tránh sao được cảnh bị cướp bóc, thiêu hủy làng mạc. Nhưng xứ Yamato trải qua mấy trăm năm, đến tận ngày nay vẫn còn xanh tốt với những cánh rừng nguyên thủy, âu cũng phần lớn nhờ vào sự sáng suốt của Sekishūsai vậy.
Sau trận hợp chiến Sekigahara, thiên hạ rơi vào tay Tướng quân Tokugawa Ieyasu. Lúc bấy giờ loạn lạc đã không còn, đất nước quy về một mối nên Sekishūsai mới để con trai là Yagyū Munenori theo thờ họ Tokugawa, nhận chức Chỉ nam dạy kiếm cho con cháu Tướng quân, nhận bổng lộc hơn vạn hộc, con cháu đời đời hưởng phúc.
Việc Yagyū Sekishūsai thờ ơ với thế cuộc, sớm lui về ở ẩn phần nào cũng nói lên ảnh hưởng của công án "vô đao" mà sư phụ Kami Izumi để lại cho ông. Vì vậy ông tự nhận mình là "thuyền đá", chỉ chìm ở đáy nước chứ không nổi lên mặt như thiên hạ. Ông cho rằng binh pháp (võ nghệ) của mình không dùng để xuất thế lập thân ở thế gian phù phiếm như nhiều người vẫn quan niệm. Nhân sinh quan này quả độc đáo và trái ngược với quan niệm của đa số con người thời đó lẫn đương đại. Phàm là kẻ có chút tài năng, hoặc giả là không có, người ta đều cố gắng để biến nó thành tiền tài vật chất, để được nổi danh. Nhưng Sekishūsai đã không chọn cách làm như vậy, nhưng con cháu ông vẫn đời đời được hưởng phúc. Âu cũng là cách nhìn nhận của bậc cao nhân đã đạt cảnh cực ý của binh pháp (võ nghệ) vậy. Hưởng được cái thực ở chỗ thiên hạ không hưởng được.
Sunday, December 11, 2011
Kusari-gama
Khái yếu
Kusari-gama (鎖鎌) là một món vũ khí trong võ thuật Nhật Bản cổ và được phát triển từ nông cụ, một đầu là lưỡi hái để cắt cỏ được nối với đầu kia là một quả chùy bằng một đoạn dây xích sắt. Trong tiếng Nhật, "kusari" nghĩa là dây xích, còn "kama" hay "gama" (tiếp vĩ ngữ) nghĩa là lưỡi hái. Món vũ khí này phát triển trong tầng lớp nông dân, thương nhân và thợ thủ công vốn mang thân phận thấp hèn, bị chính quyền phong kiến cấm mang kiếm trong người. Nó cũng được các lưu phái võ nghệ ở Nhật sử dụng như một món võ khí ẩn và được xem là một trong "võ nghệ thập bát ban". Món vũ khí này được biết đến nhiều qua nhân vật Shishido Baiken xuất hiện trong tiểu thuyết "Miyamoto Musashi" của văn hào Yoshikawa Eiji.
Hình dạng
Về hình dạng thì Kusari-gama chủ yếu có hai loại, một loại có quả chùy xích sắt nối vào phần đầu của lưỡi hái và một loại có quả chình xích sắt nối vào phần chuôi của lưỡi hái. Ngoài ra, hình dạng Kusari-gama cũng biến đổi thiên hình vạn trạng tùy thuộc vào từng môn phái sử dụng và công phu ra nó.
Có thể kể ra một vài loại như: Ōkusari-gama (大鎖鎌) hay còn gọi là Nagi Kusari-gama thì có phần cán dài 4 thước Tàu (120cm), loại cán dài 7 thước gọi là Yae Kusari-gama (Nagi-gama), loại này gắn thêm xích sắt thì gọi là Yae Kusari-gama, lại có loại gắn thêm mũi giáo ở đầu lưỡi hái, vân vân. Loại có quả chùy xích sắt gắn ở đầu lưỡi hái được chế tạo để sử dụng một tay, phân tán lực vào phần cổ tay nên lưỡi hái nhỏ và dây xích cũng ngắn nên có thể vung từng nhát nhỏ. Loại có quả chùy xích sắt gắn vào cái lưỡi hái được chế tạo với mục đích sử dụng hai tay, phần lưỡi hái to và dây xích cũng rất dài (2~4m). Loại này thường được gắn thêm phần bảo vệ tay giống như đốc kiếm ở cán để tránh bị lưỡi hái làm bị thương khi bị địch thủ bắt được dây xích hay khi ném dây xích. Tại Nhật Bản, các loại Kusari-gama thường được các lò rèn đồ gia dụng chế tạo, chỉ có một số rất ít được các lò rèn kiếm chế tạo.
Cách sử dụng
Cách dùng cơ bản của loại võ khí này là ném quả chùy bằng dây xích vào phần đầu, mặt, ống chân và cổ tay của đối thủ. Nếu quả chùy không sát thương được thì dây xích cũng sẽ quấn chặt vào tay địch, chế ngự chuyển động của địch và cuối cùng dùng lưỡi hái ở tay trái kết liễu đối thủ. Đối với loại nhỏ có gắn quả chùy ở đầu lưỡi hái thì dùng một tay múa dây xích, vừa tính toán khoảng cánh với địch mà ném quả chùy. Đối với loại lớn có quả chùy gắn ở phần cán lưỡi hái thì tay phải nắm đoạn xích gần quả chùy vài chục cm mà múa vòng, khi thấy đã đủ lực thì ném thẳng quả chùy vào địch, giống như nguyên lý của ná bắn đá. Một khi đã ném chùy ra thì phải mất thời gian mới thu hồi và quấn lại phần xích sắt nên nhiều môn phái có thêm phần luyện tập đánh cận chiến nhỡ khi địch tránh được quả chùy. Kusari-gama là món vũ khí lợi hại, vào tay cao thủ có thể biến ảo khôn lường như rồng lượn rắn trườn nhưng rất khó sử dụng. Phần lớn những người mới sử dụng đều bị chính quả chình của mình đập vào người. Món vũ khí này cũng gần như không có tính phòng vệ, trong phát ném đầu tiên mà đối thủ tránh được thì xem như đã bước chân vào tử địa nên sử dụng vũ khí này phải có tâm lý "nhất kích tất sát".
Phiên bản Việt Nam
Trong truyện ngắn "Ném bút chì" (in trong tập "Vang bóng một thời"), nhà văn Nguyễn Tuân cũng viết về một loại võ khí gọi là "bút chì" tương tợ Kusari-gama, chỉ khác là lưỡi mai thay cho lưỡi hái và không có quả chùy sắt và dây xích được thay bằng dây thừng. Theo mô tả qua ngòi bút Nguyễn Tuân, người dụng võ khí này tay phải cầm đốc ngọn mai, tay trái quấn chặt đoạn dây thừng buộc chặt vào một đầu cán mai. Cách sử dụng cũng có khác Kusari-gama ở chỗ ném lưỡi mai vào người đối thủ, đoạn dùng tay trái giật về bằng đoạn dây thừng quấn quanh tay trái.
Mục liên quan
Văn kiện tham khảo
BAB Japan "Mọi điều về vũ khí mật" (秘武器の全てがわかる本), Iwai Kohaku biên soạn, xuất bản tháng 1 năm 1999, trang 94~110.
Liên kết ngoài
Thursday, December 8, 2011
Yagyū Muneyoshi
Thời trai trẻ
Yagyū Muneyoshi là con trai của Yagyū Ieyoshi, một võ tướng thời Chiến quốc Nhật Bản và là thành chủ thành Yamato, trưởng làng Yagyū ở xứ Yamato. Ban đầu Muneyoshi theo học phái kiếm Toda-ryū với Toda Ittōsai (Kanemaki Jisai), sau theo Katori Shinjūrō học phái kiếm Shintō-ryū và nổi danh từ đấy. Năm Eiroku thứ 6 (1563), Muneyoshi gặp gỡ kiếm sư Kami Izumi Nobutsuna thuộc phái Shinkage-ryū và thách đấu với vị này. Muneyoshi đấu cả 3 lần đều bại và cũng không thắng nổi đệ tử của Nobutsuna là Hikita Kagetomo. Nhận thấy sự non kém của mình, Muneyoshi lập tức quỳ lạy và xin làm đệ tử của Nobutsuna. Đến tháng 8 năm Eiroku thứ 6 thì Muneyoshi được Nobutsuna trao cho ấn chứng và đến năm Genki thứ 2 (1571) thì được truyền thụ lại hết mọi yếu quyết cùng phái kiếm Shinkage-ryū. Vì vậy phái kiếm Shinkage-ryū của Yagyū Muneyoshi được cho là chánh lưu và gọi là Yagyū Shinkage-ryū còn phái kiếm của Hikita Kagetomo là phụ lưu, gọi là Hikita Shinkage-ryū.
Thời trai trẻ Muneyoshi theo thờ Tsutsui Junkei, sau theo Matsunaga Hisahide, đều là những võ tướng Chiến quốc xứ Yamato và là thuộc hạ của Oda Nobunaga. Trong khoảng thời gian này ông gặp nhiều chuyện không may như bị trúng tên ở tay trong một trận chiến khi theo họ Matsunaga, một lần khác bị ngã ngựa nặng trên đường trở về cốc Yagyū vào năm Eiroku thứ 11. Năm Genki thứ 2 (1571), con trưởng của ông là Yoshikatsu bị đạn bắn trọng thương đến nỗi không cầm được kiếm. Sau đó ít lâu thì bản thân Muneyoshi cũng quay về làng Yagyū ẩn dật, chẳng màng sự đời. Đến khi Matsunaga Hisahide mưu phản Oda Nobunaga thì ông cũng chính thức thoát khỏi quan hệ chủ tớ với họ Matsunaga, sau có Tsutsui Junkei thay Matsunaga cai quản xứ Yamato thì ông cũng không theo. Muneyoshi còn bắt tay với võ tướng Tōchi Tōnaga, cừu địch của họ Tsutsui để giữ thế độc lập. Nhưng đến năm Tenshō thứ 13, khi Toyotomi Hidenaga vào xứ Yamato đã phát giác ông ngầm che giấu ruộng đất trong cuộc kiểm tra ruộng đất của Hideyoshi. Vì vậy Muneyoshi bị tịch thu lãnh thổ và trở thành võ sĩ giang hồ, có lần còn đến ăn xin nhà Konoe Sakihisa. Năm Bunroku thứ 3, khi thiên hạ từ tay họ Toyotomi chuyển sang họ Tokugawa, có lần Muneyoshi được Tướng quân Tokugawa Ieyasu cho vời đến và biểu diễn tuyệt kỹ Mutō-dori trước mặt ngự tiền. Được Ieyasu hết sức tán thưởng tài nghệ và mời làm chức kiếm thuật chỉ nam (như chức giáo đầu) nhưng Muneyoshi viện cớ tuổi già và tiến cử con trai thứ 5 là Munenori nhận chức thay. Từ đó Muneyoshi giao hết mọi việc thế sự cho con trai, còn mình an hưởng tuổi già và mất tại cốc Yagyū, mộ ông vẫn còn tại chùa Hōtoku-ji ở Nara.
Nhân sinh quan
Vào những năm Genki, Yagyū Muneyoshi từ bỏ hết mọi ý định trở thành một võ tướng Chiến quốc cùng giấc mộng xuất thế lập thân và lui về cốc Yagyū ẩn dật. Lúc này ông chỉ khoảng trên 40 tuổi và không rõ vì sao Muneyoshi từ bỏ mộng công danh sớm như vậy, nhưng có lẽ cái chết của sư phụ Kami Izumi đã tác động mạnh đến tư tưởng của ông, cũng như sự sụp đổ của họ Tướng quân Ashikaga cùng cựu chủ Matsunaga. Trong những bài thơ ông trước tác trong khoảng thời gian này đều bộc lộ nổi hoài nghi của ông về mọi thứ ngoài phái kiếm Shinkage-ryū. Ngay cả thứ kiếm pháp này, ông cũng ví như con thuyền đá, chỉ chìm dưới đáy nước chứ không nổi lên trên mặt. Đương thời, hễ là kẻ cầm kiếm và có chút tài năng là có thể dùng võ nghệ để tiến thân, có thể làm đến chức quan to. Nhưng Muneyoshi không coi kiếm phái của mình là công cụ để tiến thân mà là một đường lối sống, một phương pháp rèn luyện thân, tâm. Vì thế về sau ông lấy hiệu là Sekishūsai, trong đó "sekishū" (thạch chu) nghĩa là "thuyền đá", con thuyền chỉ chìm dưới đáy nước chứ không nổi lên để vượt qua bể đời vốn đầy biến động thăng trầm như sóng đại dương. Nhân sinh quan của Yagyū Muneyoshi còn thể hiện qua khái niệm Vô đao do ông lập nên và là một đặc thù lớn của phái kiếm Yagyū Shinkage-ryū.
Wednesday, November 30, 2011
Vô đao
niệm quan trọng trong nền kiếm đạo Nhật Bản và có tầm ảnh hưởng quan trọng đến nhiều phái kiếm như Yagyū Shinkage-ryū, Mutō-ryū, Munen-ryū,... và có liên hệ mật thiết với khái niệm "hoạt nhân kiếm" (Katsujin-ken).
Thanh kiếm vốn dĩ được xem là hung khí số một trong xã hội phong kiến Nhật Bản, nhưng từ khi Tướng quân Tokugawa Ieyasu thống nhất thiên hạ, mang lại nền thái bình kéo dài hơn 200 năm cho đất nước này thì vai trò của thanh kiếm ngày càng mờ nhạt đi. Để thích ứng với bối cảnh lịch sử này, tầng lớp võ sĩ đã đề xuất ra khái niệm "hoạt nhân kiếm", tức thanh kiếm dùng để cứu người, làm thăng hoa nhân sinh chứ không còn là công cụ để đoạt mạng như trước nữa. Trong thời đại này, người ta chú trọng về mặt tinh thần của kiếm thuật hơn là những chiêu thức hung hiểm vốn có của nó và nâng nó lên tầm một thứ triết học. Trong bối cảnh đó, xuất hiện kiếm sư Kami Izumi Ise-nokami Nobutsuna vốn xuất thân từ một thành chủ, nhưng sau từ bỏ địa vị của mình để theo đuổi một đời kiếm đạo. Càng luyện kiếm, ông càng nhận ra rằng sự tồn tại của thanh kiếm là không cần thiết, cũng như những chiêu thức của nó không nên dùng cho việc đoạt mạng nhau. Tinh thần bất bạo động này khá tương đồng với lý tưởng của môn võ Aikidō (Hiệp khí đạo) hiện đại.
Một lần nọ, Kami Izumi cùng lão đệ Suzuki Ihaku cùng người cháu trai Hikita Bungorō ghé đến xứ Yamato, là địa bàn của họ Yagyū. Lúc này Kami Izumi đã nổi dang thiên hạ về kiếm nghệ nên đương chủ nhà Yagyū là Muneyoshi, vốn là một võ sĩ đương tuổi hùng mạnh, đã nổi máu con nhà võ và xin tỷ thí với Kami Izumi. Mặc cho Yagyū Muneyoshi đang thời trai trẻ hùng hổ xông vào, Kami Izumi
chỉ đẩy nhẹ là khống chế được Muneyoshi. Sau mấy lần tái đấu, kết quả cũng đều không khác. Muneyoshi vô cùng ngạc nhiên và cảm phục tài nghệ Kami Izumi nên xin trở thành đệ tử.
Nhận thấy Muneyoshi là người có tư chất nên Kami Izumi Ise-nokami Nobutsuna truyền lại mọi áo nghĩa của phái kiếm Shinkage-ryū do mình sáng lập cùng một công án Thiền là "vô đao", lý tưởng và suy tư cả đời của mình lại cho Muneyoshi rồi rời khỏi xứ Yamato.
Nhận được công án, Muneyoshi ngày đêm nghiền ngẫm, cuối cùng cũng ngộ ra được chân ý của áo nghĩa "vô đao". "Vô" là một cảnh giới trong Thiền tông, và cũng là cảnh giới tối cao trong kiếm đạo. Kể từ khi ngộ được công án này, Yagyū Muneyoshi chẳng màn gì đến chuyện đao kiếm nữa mặc dù lúc này đã nổi danh là thiên hạ vô song. Từ công án này, ông sáng tạo ra chiêu thức "Mutō-dori" hay còn gọi là "Shinken Shiraha-dori", chiêu thức bắt kiếm bằng tay không trứ danh của phái Yagyū Shinkage-ryū.
Về già, Muneyoshi lấy hiệu là Sekishūsai và truyền lại hết áo nghĩa của tông phái cho cháu trai là Hyōgo-nosuke. Dòng họ Yagyū trải qua nhiều đời vẫn luôn giữ vững gia phong, chuộng võ nghệ và là một trong số hiếm hoi các dòng họ luôn sản sinh ra nhân tài qua nhiều thế hệ. Họ Yagyū vẫn tự xem kiếm pháp của mình không phải là kiếm pháp của thích khách. Ấy cũng là nhờ tinh thần "vô đao" do Kami Izumi Nobutsuna truyền lại vậy.
Tuesday, November 15, 2011
Chūjō-ryū kenjutsu
sáng lập vào đầu thời Muromachi (1336~1573). Chūjō-ryū còn là tên một
phái y học chuyên về sản phụ khoa do một cận thần của Toyotomi Hideyoshi
khai sáng, nhưng bài này chỉ bàn về phái võ Chūjō-ryū mà thôi.
Khái yếu
Chūjō-ryū là một phái võ tổng hợp, ngoài kiếm thuật còn truyền dạy
thương thuật và đoản đao. Họ Chūjō đến đời cháu của Nagahide là
Mitsuhide thì đoạn tuyệt, nhưng lưu phái Chūjō được Nagahide truyền thụ
cho Kai Buzen-nokami Hirokage, rồi từ đó truyền lại cho môn đồ của Hirokage
là Ōhashi Kage Yuzaemon, Yuzaemon truyền lại cho Yamazaki Ukyō.
Sau đó Yamazaki Ukyō chết trận nên môn đồ của ông ta là Toda Kurōzaemon Nagaie
truyền lại phái kiếm này cho hai con trai của Yamazaki Ukyō.
Về phía họ Toda thì Nagaie cũng truyền thụ phái kiếm này cho
con trai là Jibu Saemon Kageie, Kageie lại truyền cho đích tử là
Toda Seigen và Toda Kagemasa. Họ Toda đã phát triển thêm so với
phái Chūjō-ryū ban đầu nên gọi môn phái của mình là Toda-ryū, trong
khi đó họ Yamazaki vẫn gọi môn phái của mình là Chūjō-ryū.
Vì vậy, Chūjō-ryū và Toda-ryū là hai phái kiếm tách bạch nhưng
đều có chung một nguồn gốc.
Phái kiếm Chūjō-ryū của họ Yamazaki vẫn còn truyền dạy ở Nhật
cho đến đầu thời kỳ Shōwa nhưng hiện nay đã thất truyền. Đây là
môn phái để lại nhiều ảnh hưởng lớn cho phái kiếm Toda-ryū và
Ittō-ryū.
Monday, November 7, 2011
Trypoxylus dichotomus
Trypoxylus dichotomus là loài côn trùng đặc trưng của đất nước Nhật Bản.
Bọ cánh cứng, con đực có kích thước 30~45 cm chưa kể chiều dài sừng, được mệnh danh là vua của các loài côn trùng (ở Nhật). Đặc trưng của con đực là chiếc sừng dài như chiếc sừng của cái mũ đâu mâu của các võ sĩ Samurai ngày xưa, vì thế có tên là Kabuto mushi (bọ mũ đâu mâu, mũ trụ), người Mỹ trực dịch gọi là Samurai Helmet Beetle (bọ mũ Samurai) hoặc Japanese rhinoceros beetle (bọ tê giác Nhật).
Loài bọ này giữ vị trí quán quân về kích thước côn trùng ở Nhật cho đến năm 1983 khi người ta phát hiện ra một loài bọ hiếm có kích cỡ to hơn ở Okinawa.
Trypoxylus dichotomus sống chủ yếu ở rừng cây lá rộng cao dưới 1500m, phân bố từ đảo Honshū trở xuống phía Nam cho đến Okinawa. Bên ngoài Nhật Bản, loài bọ cánh cứng này còn được tìm thấy ở Đài Loan, Triều Tiên và Trung Quốc. Người TQ gọi nó là "độc giác tiên". Loài bọ này thích những loài hoa quả nhiều nước như dưa hấu.
Loài bọ này là một sinh vật đại diện cho đất nước Nhật Bản. Nó thường xuất hiện trong văn hóa đại chúng của đất nước này như Anime, Manga và phim ảnh.
Mẫu Origami Trypoxylus dichotomus do Dr. Robert J. Lang thiết kế từ 01 tờ giấy vuông là một trong những mẫu bọ hoàn hảo nhất thuộc loài này. Mẫu vật thể hiện được hết những đặc điểm của Trypoxylus dichotomus như chiếc sừng dài và sừng nhỏ ở phần đầu, các khớp chân đặc trưng của côn trùng và miếng tam giác nối giữa đầu và ngực cũng như đường rãnh gấp cánh trên lưng bọ.
Bonus:![]()
Thursday, November 3, 2011
Hōzō-in-ryū Sōjutsu
thuật Nhật Bản sử dụng ngọn thương chữ thập do Hōzō-in Kakuzenbō In-ei, một tăng binh của chùa Kōfuku-ji (Hưng phúc tự) ở Nara khai sáng. Ngoài thương pháp, phái này còn truyền dạy thuật đánh Naginata, một võ khí đặc trưng của Nhật Bản với cán dài như cán thương nhưng đầu kia gắn một lưỡi đao sắc.
Khai tổ của phái là Kakuzenbō In-ei, đệ tử đời thứ hai là Inshun, đời thứ ba là Insei và đời thứ tư là Infū.
Võ khí đặc trưng của phái này là thương chữ thập (Jūmoji yari). Khác với các loại thương thông thường, tại phần mũi thương của nó có gắn thêm lưỡi dao sắc hình trăng lưỡi liềm nên có thể vừa đâm như giáo, vừa chém gạt như Naginata. So với các loại thương thông thường thì nó có nhiều ưu điểm hơn về mặt tấn công và phòng thủ nên đương thời, phong trào theo học thương pháp Hōzō-in nở rộ một thời.
Tương truyền rằng Kakuzenbō In-ei trong một đêm tập võ nhìn thấy bóng trăng lưỡi liềm in trên mặt ao Saruzawa và bị ấn tượng với hình ảnh đó nên đã chế ra mũi thương chữ thập.
Hiện tại chỉ còn nhánh Takada của Hōzō-in-ryū là còn truyền dạy nhưng không thành hệ thống và cũng thất truyền các kỹ thuật đánh Naginata.
Khai tổ Hōzō-in In-ei
In-ei sinh năm đầu của niên hiệu Daiei (1521) và mất năm Keichō thứ 12 (1607) là một tăng binh, một võ thuật gia trong chùa Kōfuku-ji, hiệu là Kakuzenbō và là viện chủ của Hōzō-in (Bảo tàng viện), một tự viện con của Kōfuku-ji.
Hōzō-in In-ei vốn là chỗ thâm giao với Yagyū Muneyoshi, theo lời khuyên của ông này đã đến học võ nghệ với Kamiizumi Nobutsuna, khai tổ của phái kiếm Shikage-ryū. Ngoài ra ông còn theo học với rất nhiều thầy khác, nhưng trong đó chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ võ phái Tenshin Shōden Katori Shintō-ryū, một trong ba tông phái khởi nguyên của võ nghệ Nhật Bản.
Vào những năm cuối đời, In-ei thấy thương pháp của mình mâu thuẫn với giới cấm sát sinh nên không động đến giáo mác nữa, truyền giao toàn bộ võ cụ cho cao đồ Nakamura Naomasa và sống như một tăng lữ bình thường. Người kế thừa thương thuật của ông là viện chủ Hōzō-in đời thứ hai Inshun. Trong các môn đồ của ông có nhiều danh tướng dưới trướng của các sứ quân, tiêu biểu là Kani Saizō, một dũng tướng của Fukushima Masanori.
Hōzō-in Inshun
Inshun sinh năm Tenshō thứ 17 (1589), mất năm Shōhō thứ 5 (1648), là một nhà sư và một võ đạo gia đầu thời Edo. Ông là viện chủ Hōzō-in, một tự viện con của chùa Kōfuku-ji ở Nara.
Inshun xuất thân từ gia đình hào sĩ ở xứ Yamashiro và là người thừa kế thương thuật Hōzō-in do Kakuzenbō In-ei sáng lập. Inshun là người hoàn thiện hệ thống thương thuật Hōzō-in trong thời Edo.
©N.T.Duyên 2011
Thursday, October 27, 2011
Cha và con
(Dành cho những ai đã xem bộ phim Sói mang con)
Sói mang con (Kozure Ôkami, hay Lone wolf and Cub) là bộ phim về tình cha con cảm động nhất tôi từng xem. Dưới đây là bài hát chủ đề trong phim
Nghe bài hát
Tạm dịch lời
Chỉ có cha mới hiểu được con,
chỉ có con mới thấu lòng cha...
(Trong một căn nhà bỏ hoang nơi chân thành đổ nát,
có một đứa trẻ đang đợi cha.
Lẽ ra sáng nay cha đã trở về rồi.
Đã hết sáng ngày thứ ba, đã đến đêm ngày thứ tư.
Buổi sáng ngày thứ năm trời đổ cơn mưa)
Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp
Từng giọt mưa lạnh làm tê cóng tâm hồn non trẻ
Em đang đợi người cha không trở về
Vì cha em làm nghề thích khách
Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp
Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp
Cha nuốt nước mắt đi chém người
Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy
Em hóa xương khô trong cơn mưa lạnh
Em hóa xương khô trong cơn mưa lạnh
Ahh Daigorō vừa mới lên ba
Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp
Mưa rơi, mưa rơi lộp bộp
Vù vù, gió thổi vù vù
Vù vù, gió thổi vù vù
Em run từng cơn đói trong cơn gió bắc
Cha không trở về giờ đang ở đâu
Vì cha em làm nghề thích khách
Vù vù, gió thổi vù vù
Vù vù, gió thổi vù vù
Cha nuốt nước mắt đi chém người
Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy
Em về với đất trong cơn gió lạnh
Em về với đất trong cơn gió lạnh
Ahh Daigorō vừa mới lên ba
(Buổi sáng thứ sáu trời đổ sương
Sương biệt ly báo hiệu khí tiết thay đổi)
Sương rơi, sương rơi não nùng
Sương rơi biệt ly trong cơn mưa lạnh
Chân em dẫm sương như tê dại
Em vẫn ra đi tìm cha
Vì cha em làm nghề thích khách
Sương rơi, sương rơi não nùng
Sương rơi, sương rơi não nùng
Cha nuốt nước mắt đi chém người
Cha hứa sẽ trở về nhưng mãi chẳng thấy
Em đứng chết cóng trong cơn sương này
Em đứng chết cóng trong cơn sương này
Ahh Daigorō vừa mới lên ba
Sương rơi, sương rơi não nùng
Sương rơi, sương rơi não nùng